Báo Đồng Nai điện tử
En

Trịnh Hoài Đức công thần nhiều công đức:
Bài 2: Triết lý nhân sinh trong thơ Trịnh Hoài Đức

Huỳnh Văn Tới
21:16, 01/12/2023

Cấn Trai trước hết là một thi sĩ đi nhiều, quan sát kỹ, cảm nhận ở tự nhiên những vẻ đẹp tinh tế, đầy nhân tính.

Bìa sách Gia Định Tam Gia
Bìa sách Gia Định Tam Gia

* Đa tâm sự

Trong “Gia Định tam thập cảnh”, Chỉ Sơn tiên sinh cảm nhận ba mươi cảnh đẹp của xứ Gia Định, mỗi cảnh có sắc thái riêng, đều lấp lánh hình bóng của con người: Đất đỏ ở Long Đất như có người bừa mây “Chu thổ sừ vân”; bến quê Tân Triều như chiếc thuyền lẻ nằm ngang, lòng khách tha thiết gửi vào nước sông trong “Tân Triều đãi độ”; Ông Tiều ở Hố Nai gió thổi tung mái tóc trắng phau, tiếng hát hồn nhiên vang trong núi, hòa điệu tiếng nhịp chặt cây và tiếng suối chảy “Lộc động tiều ca”. Trước vẻ đẹp của sen và cô gái hái sen, tác giả tưởng như có chuyện hẹn hò, sợ làm kinh động:

遊 女 採 蓮 休 亂 動

Du nữ thái liên hưu loạn động,

舊 盟 猶 待 逐 來 潮

Cựu minh do đãi trục lai triều.

Dịch nghĩa

(Các cô gái đến hái sen đừng làm kinh động,

Hẹn cũ còn chờ theo nước triều lên).

Hoặc như, viết về cây bần ở Nam bộ, bài thơ ví thân cây như lưng cô gái nho nhỏ, thướt tha yếu đuối, vẫn nhờ làn gió nâng niu ở bờ sông đất Việt, hoa nở từng chùm đỏ ối, cành quả hàng chuỗi xanh rì, ban đêm đom đóm lập lòe như cây lửa “Thủy liễu”… Không yêu quý thiên nhiên thì không cảm nhận tinh tế đến vậy.

Trịnh Hoài Đức là người con chí hiếu, luôn biết ơn mẹ, luôn nghĩ về mẹ. Khi chuẩn bị đi sứ xa mẹ lâu ngày, quan Chánh sứ trăn trở với trái tim thơ:

Dịch nghĩa

Lìa hiệp tang thương kể mấy hồi

Ân tình ai cũng khéo phanh phui

Trăng lòa ải bắc nhàn chinh bóng

Thu quạnh trời nam quạ đút mồi

Ngay thảo tưởng rồi sa nước mắt

Công danh nghĩ lại đổ mồ hôi

Quân thân tuy cách lòng đâu cách

Trọn đạo con là trọn đạo tôi.

Ở Trịnh Hoài Đức, tình bạn thắm thiết, thủy chung chiếm vị trí trang trọng trong thơ. Rất nhiều bài thơ với nhiều cung bậc cảm xúc dành cho những người bạn thân thiết lấy chữ Sơn làm nhân hiệu như Nhữ Sơn Ngô Nhân Tĩnh, Chỉ Sơn Lê Quang Định,  Hối Sơn Hoàng Ngọc Uẩn. Bài thơ “Khốc Hộ bộ Thượng thư Mẫn Chính hầu Lê Quang Định” đau thắt ruột gan: Bạn thân ở Gia Định đã một nửa héo lụi, Lê khanh nay lại cưỡi sao Vĩ mà đi, cởi áo cừu đã làm lễ nhập quan, vẫn còn khóc như mưa phải nâng vạt áo lau.

Gặp lại người bạn cũ tại một ngôi chùa ở Biên Hòa, Trịnh Hoài Đức có thơ “Tặng Giác Lâm Viên Quang thiền sư” với lời lẽ chân tình, ấm tình bạn, đậm màu thiền; dịch nghĩa:

Nhớ thuở thái bình xưa

Đồng Nai vừa thịnh mỹ

Đạo Thích được tôn sùng

Nhà ngoại còn phú quý

Ta làm trẻ dâng hương

Sư là người giữ giới

Áo tuy chia xanh vàng

Lòng vẫn chung ý khí

Bạn giỏi xót phong trần

Quỷ đói ngập thế giới

Bọt nước chuyện mất còn

Bèo hoang phận chìm nổi

Trải hơn bốn mươi năm

Mà như không mấy đổi

Đồng tây rảnh dạo quanh

Cửa núi chợt gặp lại

Ta Hiệp trấn thành này

Sư Hòa thượng ngôi ấy

Cầm tay tựa mơ mòng

Mở lòng còn run rẩy

Chuyện xưa nói làm gì

Đạo lớn thảy như vậy

Lộ tòng kim dạ bạch,

Nguyệt thị cố hương minh.

90 năm sau khi “Cấn Trai thi tập” được ấn hành, Nguyễn Liên Phong phổ biến bài thơ nêu trên, kèm theo mấy dòng cảm tác trong Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca:

Giác Lâm chùa tổ sơ khai,

Tục kêu Cẩm Đệm lâu dài thạnh sung.

Thuở xưa Hoài Đức Trịnh công,

Viên Quang Hòa thượng cũng đồng bạn chơi.

Kẻ Vương người Phật theo đời.

Khi sau hội ngộ có lời tặng ngôn.

Một bài cổ điệu ngũ ngôn,

Trịnh công thủ bút thuyền môn rõ ràng.

Tâm sự trung quân ái quốc của Trịnh Hoài Đức rõ nhất trong “Bắc sứ thi tập” và “Đi sứ cảm tác”. Ở đó, Trịnh Hoài Đức làm thơ ghi chép gần như là nhật ký cảm xúc về mọi sự, bàng bạc trong thơ là tấm lòng trung trinh với vua, thương nhớ quê nhà.

Hành trình đi sứ kéo dài khiến cho Trịnh Hoài Đức thêm lo lắng, lòng trĩu nặng ơn vua nợ nước. Bài Đông nguyệt do Quảng Đông thủy trình vãng Quảng Tây tỉnh có đoạn được dịch nghĩa:

Ơn vua ơn nước còn mang nặng chưa đền đáp,

Năm tháng xa cách còn dần dà chưa về.

Đẩy cửa cao giọng gọi lái đò,

Nhổ neo giương buồm gấp gấp vượt sông.

Có lúc ông cảm thấy thẹn lòng vì không lo được việc nhà:

Cờ sứ cách trở lần lữa nơi dịch quán,

Người vợ thuở hàn vi lại bị bệnh ở phương trời xa.

Chí trẻ mưu sự kinh luân tế thế của ta thật lầm lẫn,

Cung tên treo lên thuở mới sinh, chợt cười đã thành chuyện hão.

                                         Lữ thứ hoa triêu

Nghe tiếng sáo như tiếng thổi bùng ngọn lửa trong lòng:

Tha hương làm khách mãi,

Chiết liễu điệu xui lòng.

Chín khúc sông sầu nhớ,

Quanh thành sông lượn vòng.

                   Tương hành tạp vịnh văn địch

Tương tự, khi lên lầu ở Trường Sa, trông những cánh buồm, dừng chén rượu, nhớ mùa thu quê hương “Đăng Trường Sa Củng Cực lâu lưu đề”. Khi nằm bệnh, giấc mộng mơ màng theo tiếng chuông bay về cõi quê hương; trời thu như gió mát để đưa tiễn đưa về quê sớm “Khai Phong phủ hành quán lập thu bệnh trung ngâm”.

* Tự tình, tự trào

Trịnh Hoài Đức ít nói về mình, nhưng có thể tìm thấy tính cách của ông trong thơ. Bài thơ Cấn Trai đề bích, có ý nghĩa tự sự, như khắc họa một con người kết tinh của Trời Đất, thừa hưởng tinh hoa của con người, sống có nguyên tắc vì xã hội và quốc gia, biết kiềm giữ, dù đã thành danh nhưng luôn vươn tới cái mới, uống rượu nhiều, khổ luyện làm thơ, có tâm hồn nhân văn “Không bẻ hoa trước sân, dành để thưởng xuân tự nhiên”:

Phiên âm

Thiên địa chung nhân tú,

Nhân thừa thiên địa chân.

Tửu đa giới đãng tính,

Thi khổ cảnh lao thần.

Lý du cương duy lập,

Danh thành đức nghiệp tân.

Đình hoa khai bất chiết,

Lưu thưởng tu nhiên xuân.

Dịch nghĩa

Trời đất chung đúc khí linh tú nên người,

Người thừa hưởng cái chân của trời đất.

Uống rượu nhiều, tự răn về tính khoáng đãng,

Khổ công làm thơ, cảnh giác về chuyện mệt mỏi tinh thần.

Lý đầy đủ, nguyên tắc để ràng buộc xã hội và quốc gia được lập,

Đã thành danh, đạo đức, sự nghiệp phải có cái mới.

Hoa trước sân nở không bẻ,

Dành để thưởng cái xuân tự nhiên.

Bài thơ Tự trào tự kiểm, tự đùa vui với mình, thể hiện tâm tình lạc quan, hài lòng với cuộc sống, ngạo với đàn thơ, vui với nước đẹp, núi lạ:

Phiên âm

Thiên nhược ư dư hống tiếu đoan,

Sinh phùng loạn thế cưỡng danh an.

Nhân nhưng mang tuế thâu nhàn nhật,

Tàm quý vi tài bác hảo quan.

Nê tuý nhất bôi kiêu tửu bá,

Nha đồ ngũ vận ngạo thi đàn.

Cận lai kiêu hãnh càn khôn lượng,

Thuỷ tú sơn kỳ túc ngã hoan.

Dịch nghĩa

Trời dường như trêu cợt ta,

Sinh gặp đời loạn mà vẫn gượng giữ vẹn được danh.

Bởi vẫn năm bận rộn trộm rút lấy ngày nhàn,

Thẹn mình tài nhỏ mà lại được chức quan kha khá.

Say nhà một chén kiêu căng với tửu bá,

Bôi lem nhem năm vận ngạo với đàn thơ.

Gần đây đánh cuộc may rủi đo lường trời đất,

Nước đẹp núi lạ đủ cho ta vui.

Muốn hiểu thêm về Trịnh Hoài Đức, có thể tìm hiểu hai cặp đối ở di tích mộ ông. Hai cặp đối ấy hoặc làm theo di nguyện của Trịnh Hoài Đức, hoặc của bạn tâm giao, thấu hiểu tâm đức của người quá cố.

Cặp đối 1, mỗi vế 7 chữ thể hiện triết lý đượm màu thiền về con người với tự nhiên:

山 水 有 情 成 眷 属

Sơn thủy hữu tình thành quyến thuộc

(Núi sông hữu tình thành người thân trong nhà)

乹 坤 無 域 是 家

Càn khôn vô vực thị gia hương

(Trời, Đất không có ranh giới chính là quê nhà).

Cặp đối 2 mỗi vế 5 chữ về đạo lý ứng xử ở đời mang tính giáo huấn:

各 人 正 走 馬

Các nhân chính tẩu mã

(Người sống ở đời chính là đang cưỡi ngựa)

舉 世 堅 行 舟

Cử thế kiên hành chu

(Việc xử thế ở đời như là kiên trì chèo thuyền)

Muốn hiểu thâm ý cặp đối 5 chữ này, phải thuộc lời giáo huấn của cổ nhân, cũng qua câu đối:

Tâm như bình nguyên mục mã, dị phóng nan thu

Học như nghịch thủy hành chu, bất tiến tất thoái

(Lòng người như cưỡi ngựa trên bình nguyên, phóng đi thì dễ, ghìm giữ mới khó.

Việc học như chèo thuyền ngược nước, không tiến tới được, ắt sẽ tụt lùi).

Hai cặp đối ấy có ý nghĩa triết lý nhân sinh như là bài học từ cuộc đời của Trịnh Hoài Đức để lại cho đời. Có thể lấy chữ Đức để diễn đạt về Trịnh Hoài Đức: Công đức, tâm đức và nhơn đức.

H.V.T

Bài 3: Chuyến đi sứ của Trịnh Hoài Đức và quốc hiệu Việt Nam

Từ khóa:

Trịnh Hoài Đức

Tin xem nhiều