Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Quy định về việc thành lập và giải quyết tranh chấp tổ hợp tác

Ðoàn Phú
05:00, 21/09/2026

Tổ hợp tác (THT) là tổ chức không có tư cách pháp nhân, được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác do ít nhất 2 thành viên tự nguyện thành lập, cùng góp vốn, góp sức lao động để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm.

Nhiều nông dân trồng lúa ở xã Phú Hòa tham gia tổ hợp tác để hỗ trợ nhau trong sản xuất. Ảnh minh họa: Diễm Quỳnh
Nhiều nông dân trồng lúa ở xã Phú Hòa tham gia tổ hợp tác để hỗ trợ nhau trong sản xuất. Ảnh minh họa: Diễm Quỳnh

Các thành viên trong THT được tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến việc thực hiện hợp đồng hợp tác và thỏa thuận giải quyết tranh chấp theo quy định pháp luật.

Cơ chế pháp lý cho tổ hợp tác

Nhu cầu hợp tác cùng nhau để tạo sức mạnh về vốn, tiềm lực đất đai, lao động, kinh nghiệm… trong người dân hiện tại rất lớn. Cá nhân có quyền hợp tác, đầu tư kinh doanh theo các mô hình công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh thì còn có quyền cùng thành lập THT. Pháp luật hiện tại cũng tạo điều kiện cho các cá nhân với tiềm lực vốn ít nhưng có kinh nghiệm và sức lao động, gắn kết nhau qua mô hình THT.

Ngày 23-7-2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 294/2026/NĐ-CP về THT (viết tắt là Nghị định số 294) và Nghị định số 295/2026/NĐ-CP về đăng ký THT, hợp tác xã, liên minh hợp tác xã (viết tắt là Nghị định số 295). Cả 2 nghị định nêu trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Ủy viên Hội đồng Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thành phố Đồng Nai cho biết: Nghị định số 294, 295 có những điểm đáng chú ý như: Khẳng định rõ THT là tổ chức không có tư cách pháp nhân, được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác do ít nhất 2 thành viên tự nguyện thành lập, cùng góp vốn, góp sức lao động để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm. Phần đóng góp của một thành viên THT gồm: phần vốn góp bằng tài sản và đóng góp bằng sức lao động của thành viên đó đã đóng góp hoặc cam kết đóng góp vào THT theo quy định tại hợp đồng hợp tác. Thời hạn hợp tác là thời gian các thành viên THT thỏa thuận hợp tác với nhau và được quy định trong hợp đồng hợp tác. THT có 2 loại: THT có đăng ký, được cơ quan đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký THT; THT không có đăng ký.

Các thành viên THT có quyền tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến thực hiện hợp đồng hợp tác, giám sát hoạt động của THT; được hưởng hoa lợi, lợi tức thu được từ hoạt động của THT; được trả lại một phần hoặc toàn bộ phần đóng góp theo quy định của hợp đồng hợp tác và pháp luật có liên quan khi rút khỏi THT.

Bên cạnh đó, các thành viên THT có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về các khoản nợ, nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động của THT theo hợp đồng hợp tác và quy định của pháp luật; bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra cho THT và các thành viên khác theo quy định của pháp luật và hợp đồng hợp tác; tuân thủ mục đích hoạt động, thực hiện các quy định trong hợp đồng hợp tác, bảo đảm nghĩa vụ đóng góp của từng thành viên vì mục tiêu và lợi ích chung của THT…

Khoản 1, Điều 21, Nghị định số 294 quy định, THT chấm dứt hoạt động trong trường hợp sau: Hết thời hạn ghi trong hợp đồng hợp tác, mục đích hợp tác đã đạt được, không duy trì số lượng thành viên tối thiểu từ 2 thành viên trở lên, theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; theo quy định của hợp đồng hợp tác và pháp luật có liên quan, theo thỏa thuận của các thành viên THT.

Giải quyết tranh chấp phát sinh

Mặc dù THT được hình thành trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng trong việc góp vốn, kinh nghiệm, sức lao động giữa các thành viên với nhau trên cơ sở hợp đồng hợp tác. Tuy vậy, trong quá trình hợp tác, giữa các thành viên trong THT vẫn có thể phát sinh các vấn đề tranh chấp về phân chia hoa lợi, lợi tức, góp vốn và rút khỏi thành viên…

Chính vì vậy, tại Điều 35, Nghị định số 294 có quy định: Tranh chấp giữa các thành viên THT trong phạm vi của hợp đồng hợp tác được ưu tiên giải quyết tranh chấp nội bộ tại THT; trường hợp các thành viên THT không tự thương lượng được thì giải quyết tranh chấp thông qua trung gian hòa giải hoặc thực hiện theo pháp luật tố tụng tại tòa án, trọng tài.

Từ quy định này, các ông, bà: Phùng Thị Nhị (xã Lộc Quang), Nguyễn Văn Phúc (xã Phú Hòa), Lâm Bon (xã Gia Kiệm) cùng có thắc mắc: Vì sao Nghị định số 294 phải ưu tiên giải quyết tranh chấp nội bộ tại THT. Chỉ khi giải quyết nội bộ không thành thì mới chọn giải pháp thông qua trung gian hòa giải hoặc thực hiện theo pháp luật tố tụng tại tòa án, trọng tài?

Vấn đề này được luật gia Nguyễn Minh, Hội Luật gia thành phố Đồng Nai cho biết: Giải quyết tranh chấp nội bộ được ưu tiên vì phương thức này không phát sinh chi phí, bảo vệ được bí mật thông tin, các bên dễ thông cảm, chia sẻ trong quá trình tự gặp gỡ, bàn bạc và trao đổi để tìm ra tiếng nói chung mà không cần sự can thiệp của bên thứ ba - tức là bên làm trung gian hòa giải như: UBND, tòa án, trọng tài.

Cũng theo luật gia Nguyễn Minh, giải quyết tranh chấp thông qua trung gian hòa giải là hình thức can thiệp của bên thứ ba, với sự chấp thuận của các bên liên quan trong tranh chấp. Chức năng của bên trung gian là đưa ra giải pháp cho tranh chấp với mong muốn được các bên chấp thuận, nỗ lực giúp các bên hiểu lập trường, quan điểm của nhau, sẽ gặp gỡ riêng với từng bên, lắng nghe quan điểm của mỗi bên, nhấn mạnh các lợi ích chung và nỗ lực giúp các bên tiến tới một giải pháp chung.

Còn giải quyết tranh chấp thực hiện theo pháp luật tố tụng tại tòa án thì phải tuân theo thủ tục nghiêm ngặt, công khai, trải qua nhiều cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm) sẽ tốn kém thời gian, chi phí. Riêng với tố tụng trọng tài, tuy thủ tục linh hoạt, nhanh chóng, tiến hành không công khai (bảo mật thông tin) và phán quyết của trọng tài có hiệu lực chung thẩm ngay nhưng các bên phải tốn phí và bắt buộc các bên phải có thỏa thuận trọng tài hợp pháp bằng văn bản, trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.

Ðoàn Phú

Tin xem nhiều