Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Những điểm mới trong luật bảo hiểm xã hội

09:01, 24/01/2007

Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) có hiệu lực từ ngày 1-1-2007. Luật BHXH có những điểm nào mới so với Điều lệ BHXH trước đây? Phóng viên báo Đồng Nai đã có cuộc trao đổi với Giám đốc BHXH tỉnh Nguyễn Ngọc Quang về vấn đề này. Ông Quang cho biết

Ông Nguyễn Ngọc Quang.

Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) có hiệu lực từ ngày 1-1-2007. Luật BHXH có những điểm nào mới so với Điều lệ BHXH trước đây? Phóng viên báo Đồng Nai đã có cuộc trao đổi với Giám đốc BHXH tỉnh Nguyễn Ngọc Quang về vấn đề này. Ông Quang cho biết:

 

- Luật BHXH có rất nhiều điểm mới so với Điều lệ BHXH trước đây. Trước tiên, các đối tượng được tham gia BHXH được mở rộng thêm. Ví dụ, ngoài đối tượng là cán bộ, công nhân, viên chức, công nhân... như trước đây - gọi tắt là người lao động (NLĐ) - có thời gian làm việc từ 6 tháng trở lên được quyền tham gia BHXH thì trong luật lần này có thêm các đối tượng là hạ sĩ quan, binh sĩ trong quân đội và công an. Bên cạnh đó, quy định về quyền, trách nhiệm của NLĐ, của người sử dụng lao động, của tổ chức BHXH rất cụ thể, chi tiết để đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ BHXH dành cho người tham gia BHXH. Mặt khác, quy định mức hưởng BHXH đối với NLĐ căn cứ vào mức đóng và thời gian đóng BHXH (bắt buộc phải đóng BHXH trên cơ sở tiền lương, tiền công mà NLĐ và chủ sử dụng lao động đóng). Luật BHXH cũng quy định, NLĐ vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc, vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở tổng hợp thời gian đóng BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. 

 

* Thưa ông, điều mà người tham gia BHXH quan tâm nhất chính là chế độ khi ốm đau. Trong Luật BHXH quy định về vấn đề này như thế nào?

 

- Luật BHXH quy định điều chỉnh theo hướng tăng mức hưởng cho người tham gia BHXH. Chế độ BHXH còn tùy thuộc vào điều kiện làm việc, thời gian đóng BHXH. Chẳng hạn, NLĐ làm việc trong điều kiện bình thường, có trên 30 năm đóng BHXH, khi ốm đau được nghỉ tối đa 60 ngày (trước đây là 50 ngày); làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, có trên 30 năm đóng BHXH, khi bị bệnh được nghỉ tối đa 70 ngày (trước đây là 60 ngày). Riêng đối với trường hợp con dưới 7 tuổi bị ốm đau, nếu trong hai người (cha và mẹ) cùng tham gia nhưng một trong hai người hết thời hạn hưởng chế độ mà con chưa khỏe lại thì người kia vẫn được hưởng chế độ (trước đây không có). Ngoài ra, luật còn quy định không khống chế số con dưới 7 tuổi bị ốm đau để cha mẹ phải nghỉ việc để chăm sóc (trước đây cha, mẹ đóng BHXH chỉ được hưởng chế độ đối với con thứ nhất và con thứ hai). Riêng trường hợp bệnh dài ngày (sau 180 ngày), NLĐ sẽ được hưởng các mức 45% tiền lương (đóng BHXH dưới 15 năm), 55% (đóng BHXH từ 15 đến dưới 30 năm), 65% (đóng BHXH đủ 30 năm trở lên). Nếu số tiền hưởng theo quy định thấp hơn mức lương tối thiểu chung thì tính bằng mức lương tối thiểu chung (trước đây không có). Riêng chế độ dưỡng sức, phục hồi sau khi ốm đau được hưởng theo điều kiện: tại gia đình từ 5 - 10 ngày được hưởng 25% x mức lương tối thiểu chung (450 ngàn đồng), nghỉ tập trung từ 5 - 10 ngày được hưởng 40% x 450 ngàn đồng.

 

* Đối với nữ, chế độ thai sản có gì thay đổi gì so với những quy định như trước đây không?

 

- Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 5 lần (trước đây là 3 lần). Sau khi sinh, con không may bị chết, nếu con dưới 60 ngày tuổi thì mẹ được nghỉ việc 90 ngày tính từ ngày sinh con (trước đây là 75 ngày); từ 60 ngày trở lên, mẹ được nghỉ 30 ngày (trước đây là 15 ngày). Đối với trường hợp một trong hai người tham gia BHXH hoặc cả hai người đều cùng tham gia, nếu sau khi sinh con, người mẹ chết thì người cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản đến khi đứa trẻ được đủ 4 tháng tuổi. NLĐ khi sinh con hoặc NLĐ nhận con nuôi dưới 4 tháng tuổi được trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con. Tuy nhiên, trong trường hợp này thì NLĐ phải có thời gian đóng BHXH đủ 6 tháng trong thời gian của 12 tháng trước khi nghỉ sinh con hoặc nhận con nuôi. Mức hưởng chế độ thai sản bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ thai sản. Riêng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe của người mẹ sau sinh được tính theo mức: nghỉ tại gia đình sẽ được hưởng 25% x 450 ngàn đồng/ngày và chỉ được tính từ 5 - 10 ngày; nghỉ tập trung thì được hưởng 40% x 450 ngàn đồng/ngày và cũng tính từ 5 -10 ngày.

 

* Thưa ông, NLĐ khi gặp tai nạn lao động hoặc bị bệnh nghề nghiệp thì được NLĐ hưởng mức trợ cấp như thế nào?

 

- Luật BHXH quy định mức hưởng trợ cấp một lần hoặc hàng tháng đối với chế độ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp được tính theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động với mức lương tối thiểu chung. Các trường hợp được hưởng chế độ tai nạn lao động, thuộc một trong các trường hợp sau: Tại nơi làm việc, trong giờ làm việc; ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện yêu cầu của chủ sử dụng lao động; trên tuyến đường đi và về hoặc từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý. Bên cạnh đó, NLĐ bị suy giảm từ 5% trở lên do tai nạn lao động hoặc suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bệnh nghề nghiệp trong quá trình làm việc cũng được hưởng chế độ. Ngoài ra, NLĐ còn được hưởng thêm theo số năm đã đóng BHXH và tiền lương, tiền công đóng BHXH hàng tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị. Mức trợ cấp chết do tai nạn lao động, ngoài hưởng chế độ tử tuất, còn được trợ cấp tương ứng 36 tháng lương tối thiểu chung (trước đây là 24 tháng). Những người bị tai nạn với tỷ lệ thương tật 81% trở lên (liệt cột sống, mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi và bệnh tâm thần) thì được hưởng trợ cấp phục vụ hàng tháng bằng mức lương tối thiểu chung (trước đây bằng 0,8 mức lương tối thiểu chung).

 

* Còn về chế độ tử tuất, Luật BHXH có quy định gì để giúp gia đình người chết có thể giải quyết việc ma chay và góp phần trong cuộc sống của thân nhân họ?

 

- Theo luật định, mức trợ cấp cho mai táng bằng 10 tháng lương tối thiểu chung (trước đây là 8 tháng). Mặt khác, Luật còn quy định mức trợ cấp tuất một lần đối với người đang tham gia BHXH, hoặc người đang bảo lưu thời gian đóng BHXH mà chết thì tính theo số năm đã đóng BHXH. Cụ thể, mỗi năm đóng được tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH tối thiểu cũng bằng 3 tháng lương (trước đây tính bằng 0,5 tháng và khống chế 12 tháng). Đối với người hưởng lương hưu chết, quy định nêu rõ, nếu chết trong hai tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó thì cứ hưởng thêm một tháng lương hưu, tuy nhiên mức trợ cấp sẽ giảm đi 0,5 tháng lương, nhưng ít nhất cũng bằng 3 tháng lương hưu. Như vậy, đối với người có ít thời gian hưởng lương hưu mà bị chết thì mức trợ cấp một lần tăng nhiều so với trước đây. Về trợ cấp tuất hàng tháng đối với thân nhân người chết sẽ bằng 0,5 mức lương tối thiểu chung (trước đây bằng 0,4). Số thân nhân người chết được trợ cấp tuất hàng tháng không quá 4 người. Trong khi đó, một thân nhân có từ 2 người chết trở lên thì được hưởng 2 lần mức trợ cấp hàng tháng (trước đây không quy định vấn đề này). Nếu thân nhân là bố, mẹ, vợ hoặc chồng chưa đủ 55 tuổi đối với nữ và 60 đối với nam bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên đều được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng (trước đây không có quy định này).

 

* Vấn đề hưu trí được rất nhiều thành phần trong xã hội quan tâm, ông có thể nói rõ về thời gian nghỉ hưu cũng như các chế độ liên quan đến đời sống của những người đã đủ tiêu chuẩn hưởng hưu trí?

 

- Trước tiên, người có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên được hưởng chế độ hưu trí khi đủ điều kiện về tuổi đời (nam đủ 60 tuổi, nữ 55 tuổi, hoặc nam từ đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi và nữ từ đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi nhưng làm nghề nặng nhọc, ở môi trường độc hại, nguy hiểm). Mức hưởng trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng BHXH - kể từ năm 31 trở đi đối với nam và năm thứ 26 trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng BHXH thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công hàng tháng đóng BHXH (trước đây cũng tính 0,5 tháng nhưng khống chế tối đa là 5 tháng). Mức hưởng BHXH một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH (trước đây tính bằng 1 tháng). Đối với NLĐ không thuộc đối tượng hưởng chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ (trước đây không có quy định điều chỉnh này). Riêng NLĐ thuộc đối tượng hưởng lương do Nhà nước quy định được tính theo từng thời điểm bắt đầu tham gia đóng BHXH. Ví dụ: Đóng BHXH trước ngày 1-1- 1995 được tính theo bảng lương bình quân của 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu; từ 1- 1-1995 đến 31-12-2000, tính bình quân của 6 năm cuối; từ 1-1-2001 đến 31-12-2006, tính bình quân 8 năm cuối; từ 1-1-2007 trở đi, tính bình quân 10 năm cuối...

Nhìn chung, nội dung của Luật BHXH thể hiện được đầy đủ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực BHXH. Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, công khai; đồng thời thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội là chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHXH, nhưng cơ bản vẫn đảm bảo được quyền lợi của mọi đối tượng tham gia BHXH. Luật BHXH ra đời đã khắc phục được những hạn chế, bất cập của chính sách BHXH trước đây.

 

* Xin cám ơn ông!

 

Tạ Nguyên (thực hiện)

 

Tin xem nhiều