
LTS: Trong hai ngày 29 và 30-9-2008, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã tiến hành Hội nghị kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng.
LTS: Trong hai ngày 29 và 30-9-2008, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã tiến hành Hội nghị kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng. Để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong tỉnh hiểu rõ những nội dung mà hội nghị đã bàn, đặc biệt là những đánh giá về kết quả mà Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà đạt được trong nửa nhiệm kỳ qua; những thuận lợi, khó khăn và phương hướng, mục tiêu trong nửa nhiệm kỳ còn lại, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã biên soạn tài liệu dưới dạng hỏi, đáp. Báo Đồng Nai trân trọng giới thiệu tài liệu trên các trang phụ trương số báo hôm nay phục vụ bạn đọc.
Câu hỏi 1: Hội nghị giữa nhiệm kỳ của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã đánh giá kết quả tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh trong hai năm rưỡi qua như thế nào?
Trả lời:
Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị nửa nhiệm kỳ qua, Đảng bộ tỉnh luôn luôn bám sát và triển khai thực hiện có hiệu quả mục tiêu tổng quát, phương hướng chung của Nghị quyết Đại hội VIII. Đã thực hiện đổi mới đồng bộ trên nhiều lĩnh vực, tiếp tục nâng cao năng lực và sức chiến đấu toàn Đảng bộ, phát huy được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị.
- Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát huy tốt nội lực, tạo bước chuyển mới về chất của nền kinh tế.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, nâng được tỷ trọng khu vực dịch vụ, tạo sự chuyển biến tích cực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn.
- Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với giữ vững quốc phòng an ninh. Triển khai quan hệ hợp tác kinh tế - xã hội với một số tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế.
- Sự nghiệp giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ phát triển; công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ.
- Giải quyết tốt các chính sách xã hội, giảm nghèo, việc làm cho người lao động và chính sách tôn giáo - dân tộc.
- Hoạt động văn hóa phong phú, đa dạng, được sự hưởng ứng của đông đảo quần chúng, đời sống tinh thần và mức sống của nhân dân trong tỉnh được nâng lên rõ nét. Đã có nhiều nỗ lực trong công tác cải cách hành chính, nâng chất lượng hoạt động của bộ máy Nhà nước các cấp.
- Thực hiện tốt việc xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức bộ máy. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy tốt hơn vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể trong công tác vận động quần chúng.
Câu hỏi 2: Trong 17 chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Đại hội VIII, đến nay những chỉ tiêu nào đã thực hiện đạt cao hơn, những chỉ tiêu nào đạt và gần đạt?
Trả lời:
Đối chiếu với 17 chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Đại hội VIII, đến nay đã có:
- 4/17 nội dung đạt cao hơn so chỉ tiêu Nghị quyết gồm: giá trị tổng sản phẩm quốc nội GDP, tổng kim ngạch xuất khẩu, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội/GDP, tỷ lệ che phủ cây xanh.
- Có 4/17 nội dung đạt chỉ tiêu Nghị quyết gồm: tổng thu ngân sách trên địa bàn/GDP, tỷ lệ hộ dùng điện, thu gom và xử lý rác thải, phổ cập giáo dục trung học.
- Có 9/17 nội dung gần đạt chỉ tiêu Nghị quyết gồm: GDP bình quân đầu người, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tăng dân số tự nhiên, sử dụng lao động qua đào tạo, số ấp khu phố và hộ gia đình văn hóa, giảm tỷ lệ hộ nghèo, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi; tỷ lệ tập hợp quần chúng trong độ tuổi, tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh và đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Câu hỏi 3: Trên lĩnh vực kinh tế Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa VIII) đánh giá kết quả đạt được như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ vào mục tiêu tổng quát và phương hướng chung của Đại hội, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đánh giá kết quả thực hiện trên lĩnh vực kinh tế trong nửa nhiệm kỳ qua như sau:
Kinh tế tiếp tục giữ nhịp độ tăng trưởng cao, ổn định và khá bền vững.
- Sản xuất công nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Hoạt động thương mại - dịch vụ có bước phát triển mới.
- Nông nghiệp, nông thôn ổn định và tiếp tục phát triển.
- Huy động nội lực đạt kết quả cao, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước được hoàn thiện; hoạt động liên kết tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm và hợp tác kinh tế với nước ngoài tiếp tục mở rộng.
- Hoạt động tài chính, tín dụng đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn.
- Công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường có tiến bộ.
Câu hỏi 4: Sự nghiệp giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và văn hóa - xã hội của tỉnh trong nửa nhiệm kỳ qua đã có những chuyển biến như thế nào?
Trả lời:
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và văn hóa - xã hội chuyển biến tiến bộ, góp phần nâng cao đời sống tinh thần nhân dân, thúc đẩy sự phát triển chung trên địa bàn.
- Giáo dục - đào tạo tiếp tục phát triển.
- Hoạt động khoa học - công nghệ gắn chặt hơn với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và công tác quản lý.
- Văn hóa phát triển đúng định hướng; công tác xã hội đạt nhiều thành tựu quan trọng, tạo sự phấn khởi trong nhân dân.
- Công tác giải quyết lao động, việc làm và giảm nghèo, thực hiện chính sách xã hội đạt được kết quả quan trọng.
Câu hỏi 5: Trong nửa nhiệm kỳ qua, hoạt động bảo đảm quốc phòng an ninh của tỉnh ta như thế nào?
Trả lời:
Hoạt động quốc phòng an ninh bám sát yêu cầu, nhiệm vụ chính trị địa phương, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, bảo vệ vững chắc an ninh, duy trì trật tự, an toàn xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị.
- Công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ được quan tâm thường xuyên. Đội ngũ cán bộ, chiến sĩ các lực lượng Quân đội, Công an vững vàng về chính trị, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
- Đã xây dựng được lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ vượt chỉ tiêu Nghị quyết. Hàng năm đều hoàn thành 100% chỉ tiêu giao quân.
- Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân ngày càng được củng cố vững chắc và đi vào chiều sâu.
- Thực hiện tốt nhiệm vụ ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Câu hỏi 6: Tình hình hoạt động của các cơ quan dân cử, bộ máy nhà nước các cấp và công tác cải cách tư pháp trong nửa nhiệm kỳ qua đã có những chuyển biến gì?
Trả lời:
Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy; nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan dân cử và bộ máy nhà nước các cấp; công tác cải cách tư pháp chuyển biến tiến bộ.
- Chính quyền các cấp từ tỉnh đến cơ sở đã có nhiều nỗ lực xây dựng phong cách, phương pháp lãnh đạo dân chủ.
- Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh tiếp tục đổi mới hoạt động. Hàng năm xây dựng chương trình hoạt động cụ thể, tạo điều kiện tốt cho các đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn.
- HĐND các cấp trong tỉnh phát huy có hiệu quả, vai trò của cơ quan dân cử. Các kỳ họp được chuẩn bị chu đáo, đúng luật; các nghị quyết được thông qua đạt sự thống nhất cao, sát thực tế, quyết định được nhiều vấn đề quan trọng của địa phương.
- Bộ máy cơ quan nhà nước các cấp được củng cố, cơ bản đáp ứng được yêu cầu quản lý xã hội. Hoàn thành việc sắp xếp các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện theo chỉ đạo của Chính phủ; phân định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính Nhà nước.
- Công tác cải cách tư pháp chuyển biến tốt cả về củng cố tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động.
- Công tác phòng chống tham nhũng đạt được kết quả quan trọng. Đã tổ chức triển khai nghiêm túc các Nghị quyết của Đảng. Ban hành quy định trách nhiệm của người đứng đầu trong các cơ quan, đơn vị; thành lập Ban Chỉ đạo của tỉnh về phòng, chống tham nhũng, bước đầu hoạt động có hiệu quả. Chỉ đạo chặt chẽ và tổ chức tốt công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những vi phạm, thu hồi tiền bạc, tài sản thất thoát cho Nhà nước.
Câu hỏi 7: Về công tác vận động quần chúng trong nửa nhiệm kỳ qua đã đạt được những kết quả gì?
Trả lời:
Công tác vận động quần chúng tiếp tục đổi mới và đi vào chiều sâu. Khối đại đoàn kết toàn dân được mở rộng và phát huy; nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể được đổi mới theo hướng chất lượng, hiệu quả.
- Các chủ trương, chính sách của Đảng về công tác vận động quần chúng, chính sách về công tác tôn giáo, dân tộc được các cấp ủy quan tâm triển khai quán triệt trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.
- Công tác dân vận của các cấp chính quyền và các cơ quan nhà nước có chuyển biến tích cực; gắn với việc xây dựng ý thức phục vụ nhân dân.
- Các cấp ủy quan tâm bố trí, đào tạo bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn viên, mặt trận, đoàn thể, nhất là cấp cơ sở.
- Nét nổi bật từ đầu nhiệm kỳ đến nay, các cấp ủy Đảng từ tỉnh đến cơ sở tập trung lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tiến hành kiểm tra, khảo sát, đánh giá thực trạng về số lượng, chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở.
- Tổ chức thành công đại hội các đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở (Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Liên đoàn lao động và các hội quần chúng).
- Quy chế dân chủ ở cơ sở và cơ chế giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động tổ chức Đảng, chính quyền được các cấp ủy quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt.
Câu hỏi 8: Phương thức lãnh đạo của Đảng trong nửa nhiệm kỳ vừa qua đã có những đổi mới như thế nào?
Trả lời:
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong giáo dục chính trị - tư tưởng, quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết, chỉ thị của Đảng; phát huy dân chủ trong Đảng; kiện toàn hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đội ngũ đảng viên.
- Trong giáo dục chính trị - tư tưởng, quán triệt, thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng; phát huy dân chủ trong Đảng; kiện toàn hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên.
- Công tác xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng được xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và luôn bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ.
- Công tác xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ có nhiều chuyển biến tích cực.
- Tập trung chỉ đạo xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng; chú trọng ở vùng sâu, vùng xa, vùng tôn giáo, dân tộc, và trong các doanh nghiệp.
- Công tác đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên hàng năm được đổi mới về nội dung và hình thức.
- Tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh tăng 0,4% so với đầu nhiệm kỳ, không còn cơ sở Đảng yếu kém kéo dài; tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ hàng năm từ 74,99% đến 76,6%.
- Công tác cán bộ được đổi mới nội dung và cách tiến hành, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ.
- Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng được tăng cường và phát huy hiệu quả. Đã ban hành tiêu chí cụ thể để kiểm tra thực hiện gắn với công tác khen thưởng.
- Phương thức lãnh đạo của Đảng đổi mới hiệu quả; đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất, toàn diện của Đảng bộ.
Câu hỏi 9: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa VIII) đã xác định nguyên nhân của những thành tựu đạt được trong nửa nhiệm kỳ vừa qua là gì?
Trả lời:
Nguyên nhân của những thành tựu đạt được trong nửa nhiệm kỳ qua, trước hết là do Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh và các cấp ủy trong toàn Đảng bộ đã luôn bám sát mục tiêu, phương hướng Nghị quyết Đại hội, quán triệt sâu và vận dụng thực hiện có hiệu quả các quan điểm Nghị quyết Đại hội X của Đảng, các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương Đảng khóa X sát với thực tiễn của tỉnh.
- Đã xây dựng được khối đoàn kết vững chắc trong nội bộ Đảng, trong hệ thống chính trị, tạo được sự đồng thuận và quyết tâm cao trong lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trên tất cả các lĩnh vực đã nêu trong Nghị quyết.
- Trong quá trình thực hiện đã xác định rõ các lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm để tập trung sức chỉ đạo, đồng thời phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, động viên toàn Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh, xây dựng chính quyền, xây dựng Đảng đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh.
Câu hỏi 10: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong phát triển kinh tế nửa nhiệm kỳ vừa qua là gì?
Trả lời:
Kinh tế phát triển, nhưng còn một số yếu tố trì trệ ảnh hưởng sự phát triển bền vững:
- Đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp khu vực trong nước còn chậm. Chậm triển khai các công trình trọng điểm và các đô thị mới. Chưa xây dựng được các thiết chế quản lý đô thị.
- Dịch vụ có chuyển biến nhưng chưa mạnh, chưa đều. Tỷ trọng dịch vụ chất lượng cao thấp; việc xây dựng các chợ còn nhiều vướng mắc; tuyến điểm du lịch chuyển biến chậm.
- Chậm nhân rộng các mô hình sản xuất ứng dụng khoa học - kỹ thuật, công nghệ cao; thực hiện chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế.
- Rất chậm trong việc thực hiện các đề án: quy hoạch các vùng cây chuyên canh, nghiên cứu đề tài nuôi trồng thủy sản trên hồ Trị An, chương trình nông thôn "4 có", trồng mới 1.000 hecta rừng gỗ lớn, nâng tỷ lệ che phủ rừng...
- Hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông nghiệp - nông thôn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Quản lý công tác thủy lợi chưa tốt, chất lượng một số công trình thấp. Quản lý đất đai, tài nguyên chưa chặt chẽ, quản lý bảo vệ môi trường chưa tốt, đặc biệt xử lý chất thải ở các khu công nghiệp còn nhiều yếu kém.
Câu hỏi 11: Những tồn tại, hạn chế trong hoạt động giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa - xã hội của tỉnh trong nửa nhiệm kỳ vừa qua là gì?
Trả lời:
Hoạt động giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa - xã hội còn những mặt hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh.
- Công tác đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Tỷ lệ trường đạt chuẩn ở các cấp đạt rất thấp. Quản lý các cơ sở giáo dục - đào tạo (nhất là mầm non và dạy nghề) ngoài công lập chưa chặt chẽ.
Một số đề tài khoa học áp dụng vào thực tiễn hiệu quả chưa cao. Đội ngũ trí thức khoa học công nghệ thiếu, nhất là trí thức giỏi, trình độ cao. Hoạt động giao lưu văn hóa, quảng bá hình ảnh Đồng Nai còn hạn chế.
- Mạng lưới y tế cơ sở nhiều nơi còn kém, chưa làm tốt y tế dự phòng; ý thức phục vụ người bệnh của một số cán bộ, nhân viên y tế chưa cao; tỷ lệ bác sĩ và tỷ lệ giường bệnh/người dân còn rất thấp.
- Lao động, việc làm còn nhiều bức xúc, các khu công nghiệp thiếu lao động (nhất là lao động kỹ thuật cao). Giảm nghèo chưa bền vững; hộ nghèo phát sinh và nguy cơ tái nghèo còn cao.
Câu hỏi 12: Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong nửa nhiệm kỳ vừa qua như thế nào?
Trả lời:
- Tình hình đình công, khiếu kiện, tranh chấp, hoạt động lợi dụng tôn giáo còn tiềm ẩn những nhân tố chưa ổn định, tình hình tội phạm hình sự, ma túy, tội phạm kinh tế, xâm hại môi trường diễn biến phức tạp, tai nạn giao thông giảm nhiều, song chưa cơ bản và còn ở mức cao.
- Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ Tổ quốc và công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật có nơi còn hình thức, chưa đi vào chiều sâu.
Câu hỏi 13: Những hạn chế trong hoạt động của bộ máy Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong nửa nhiệm kỳ qua là gì?
Trả lời:
Chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước trên một số lĩnh vực chưa tương ứng yêu cầu phát triển:
- Hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh còn một số mặt hạn chế. Hoạt động chất vấn chưa phản ánh hết những nguyện vọng bức xúc, nổi cộm ở địa phương; thực hiện kiến nghị sau giám sát kết quả chưa cao. Công tác cải cách hành chính đạt hiệu quả chưa cao còn gây phiền hà cho dân.
- Tình trạng quá tải trong điều tra, xét xử chậm được khắc phục, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động tư pháp còn thiếu; việc tự kiểm tra, phát hiện các vụ việc tham nhũng, lãng phí còn hạn chế.
- Tình trạng hành chính hóa trong hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp chậm được khắc phục; thiếu chủ động phát hiện và giải quyết kịp thời những mâu thuẫn phát sinh từ cơ sở, nhất là tình hình khiếu kiện của công dân và tình hình đình công, lãn công trong các doanh nghiệp.
- Tỷ lệ tập hợp quần chúng vào đoàn thể chưa cao, chưa vững chắc; chất lượng đoàn viên, hội viên, hoạt động của đoàn hội cơ sở chưa ổn định; (nhất là trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, vùng đồng bào tôn giáo, dân tộc ít người).
Câu hỏi 14: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã chỉ ra những hạn chế trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong nửa nhiệm kỳ qua là gì?
Trả lời:
- Công tác giáo dục chính trị tư tưởng thực hiện chưa toàn diện, chưa thực hiện tốt thông tin hai chiều, nhất là thông tin từ cơ sở lên; nắm bắt chưa kịp thời dư luận và diễn biến tình hình trong nhân dân, dẫn đến còn bị động trong việc chỉ đạo.
- Nhận thức và khả năng vận dụng, cụ thể hóa các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng còn hạn chế. Tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh và đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trong 2 năm liền chưa đạt chỉ tiêu Nghị quyết.
- Việc xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng còn chậm. Một số Đảng bộ phát triển đảng viên thấp; hiện còn 45 ấp, khu phố chưa thành lập được chi bộ, tổ Đảng. Tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh lúng túng.
- Thực hiện công tác cán bộ chậm. Việc quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên chưa tốt; tự phê bình và phê bình chưa cao; việc vi phạm kỷ luật thường không được phát hiện từ nội bộ tổ chức Đảng.
Câu hỏi 15: Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu trên là gì?
Trả lời:
Ngoài những nguyên nhân khách quan do ảnh hưởng tình hình khó khăn chung của thế giới và cả nước, những nguyên nhân chủ quan là:
Một số cấp ủy Đảng chưa nắm bắt, quán triệt nhận thức sâu sắc, đầy đủ, kịp thời chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; những tình hình mới đặt ra theo dự báo của Nghị quyết, cũng như những tình hình phát sinh ngoài dự báo; tổ chức triển khai và lãnh đạo thực hiện các Nghị quyết của Đảng trên một số lĩnh vực còn thiếu đồng bộ; công tác kiểm tra giám sát của Đảng ở một số cấp ủy còn thiếu chặt chẽ. Công tác tuyên truyền còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ.
Công tác quản lý nhà nước ở một số ngành, địa phương còn yếu kém, bất cập; việc phối hợp giữa các ngành, các cấp còn chưa chặt chẽ, đồng bộ; việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra còn lúng túng, hiệu quả chưa cao. Thiếu sự chủ động trong dự báo, dự đoán tình hình để quy hoạch và tổ chức thực hiện theo kịp với yêu cầu kinh tế - xã hội phát sinh.
Vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, hội ở một số nơi còn yếu, chưa làm tốt việc tuyên truyền, hướng dẫn đoàn viên, hội viên hiểu biết và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Công tác tham gia quản lý các hoạt động đời sống xã hội, công tác giám sát, phản biện xã hội còn hạn chế.
Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức còn yếu kém cả về năng lực và phẩm chất đạo đức. Thực hiện quy định về vai trò trách nhiệm của người đứng đầu trong các cơ quan và đơn vị ở một số nơi chưa nghiêm. Một số đồng chí cấp ủy viên, cán bộ đầu ngành các cấp chưa thể hiện cao tinh thần trách nhiệm, chưa nắm sát tình hình địa phương, ngành mình phụ trách và chưa chủ động, quyết tâm chỉ đạo thực hiện bằng được nhiệm vụ chính trị được giao. Chậm đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao.
Câu hỏi 16: Qua nửa nhiệm kỳ tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh rút ra những bài học kinh nghiệm gì?
Trả lời:
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã rút ra một số bài học kinh nghiệm chủ yếu sau:
Một là: Không ngừng nâng cao nhận thức trong tình hình mới, đánh giá đúng khả năng, tiềm năng và xu thế phát triển của tỉnh, phát huy cao nhất tinh thần chủ động, sức sáng tạo trong toàn Đảng, toàn dân; trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện.
Hai là: Phải xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết của Đảng một cách cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm đối với những lĩnh vực then chốt và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện với quyết tâm cao.
Ba là: Phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi.
Bốn là: Thực hiện tốt công tác cán bộ, nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt, đảm bảo thực sự có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, tâm huyết và trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao.
Câu hỏi 17: Những thuận lợi và khó khăn trong nửa nhiệm kỳ còn lại thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh là gì?
Trả lời:
- Về thuận lợi:
Những thành tựu về kinh tế trong nửa nhiệm kỳ qua luôn giữ được nhịp độ tăng trưởng cao, khá vững chắc; tình hình xã hội ổn định, phát triển: hệ thống chính trị được củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động; đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân được nâng lên rõ rệt, tạo được niềm tin và sự phấn khởi trong xã hội; đặc biệt những thành tựu sau hơn một năm gia nhập WTO đã tạo ra được kinh nghiệm nhất định và nền tảng bước đầu cho hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh.
- Về khó khăn:
Việc hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới đòi hỏi chất lượng nền kinh tế ngày càng cao, trong khi kinh tế của tỉnh còn nhiều mặt hạn chế; thời tiết, dịch bệnh vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp; đặc biệt tình hình lạm phát diễn biến chưa lường trước, có tác động bất lợi đến toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội, trong đó, chịu hậu quả nhiều nhất là các ngành công nghiệp địa phương, các hoạt động dịch vụ thương mại, sản xuất nông nghiệp và đời sống của người lao động nhất là đời sống công nhân các khu công nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức, nông dân và dân nghèo.
Câu hỏi 18: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã đề ra những giải pháp chủ yếu gì nhằm phấn đấu thực hiện đạt và vượt mục tiêu, chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh trong nửa nhiệm kỳ còn lại?
Trả lời:
1. Về phát triển kinh tế.
- Tập trung kiềm chế lạm phát.
- Tăng cường công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.
- Đẩy mạnh sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực chủ yếu.
+ Nâng cao chất lượng phát triển ngành Công nghiệp.
+ Phát triển mạnh Thương mại - Dịch vụ - Du lịch chất lượng cao, nâng cao tỷ trọng ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh tế.
+ Đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp - nông thôn theo hướng hiện đại
2. Sử dụng vốn có hiệu quả, đẩy mạnh hoạt động liên kết và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Điều chỉnh, bố trí vốn đầu tư phù hợp, hiệu quả, tập trung các công trình trọng điểm; tăng cường quản lý, kiểm tra giám sát quy trình, chất lượng xây dựng cơ bản.
- Tạo điều kiện thuận lợi (về: đất đai, tài chính - tín dụng), phát triển các thành phần kinh tế, quan tâm phát triển kinh tế tập thể, nâng cao chất lượng cổ phần hóa.
- Thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các địa phương, liên vùng, quốc tế; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài.
3. Phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Tăng cường chất lượng toàn diện. Xây dựng lộ trình nâng tỷ lệ trường chuẩn quốc gia, phổ cập giáo dục bậc trung học.
- Có nhiều hình thức học tập phù hợp với người lao động (nhất là công nhân KCN); phát triển nhà trẻ, đổi mới quản lý ngành (tăng quyền tự chủ cho các trường học công lập).
- Ưu tiên nghiên cứu ứng dụng lĩnh vực dịch vụ, nông nghiệp, nông dân nâng cao tính cạnh tranh. Xúc tiến nhanh việc xây dựng trung tâm ứng dụng công nghệ sinh học, trung tâm nông nghiệp kỹ thuật cao. Tăng cường phổ biến kiến thức khoa học công nghệ đến người sản xuất.
4. Phát triển sự nghiệp văn hóa - xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân.
- Đẩy mạnh xây dựng các khu văn hóa khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đông công nhân, khu công nghiệp. Nâng cao chất lượng báo chí, xuất bản, phát thanh truyền hình, tổ chức tốt các hoạt động văn hóa thể thao.
- Tăng cường đầu tư, thu hút bác sĩ, chuyên gia y tế giỏi, nâng tỷ lệ bác sĩ trên vạn dân. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động y tế; xây dựng bệnh viện đa khoa tỉnh.
- Tổ chức thực hiện tốt các chương trình đào tạo nguồn nhân lực, giảm nghèo bền vững, xây dựng chuẩn nghèo mới; đảm bảo an sinh xã hội, giải quyết việc làm (nhất là cho người dân vùng có thu hồi đất).
5. Tăng cường quốc phòng - an ninh.
- Tăng cường giáo dục chính trị - tư tưởng, xây dựng cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang các cấp, vững về tư tưởng chính trị, giỏi chuyên môn, sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Thực hiện tốt Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh".
- Đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả mọi âm mưu phá hoại của các đối tượng phản động, thù địch, cực đoan trong và ngoài nước.
- Nâng cao chất lượng giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, các vụ án trọng điểm về tham nhũng, ma túy, tội phạm. Đẩy mạnh công tác phòng chống ma túy, tệ nạn xã hội, thực hiện có hiệu quả mục tiêu 4 giảm.
6. Xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước, thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm.
Nhân rộng mô hình thực hiện tốt hoạt động giám sát cộng đồng; xây dựng cơ chế và công khai tiêu chí về trách nhiệm, thái độ phục vụ của công chức, viên chức nhà nước, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia giám sát việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức và các hoạt động của chính quyền.
- Hoàn thiện, nâng cao chất lượng bộ máy Nhà nước, chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất đạo đức, có năng lực chuyên môn cao đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh; tăng cường việc thu hút cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học về công tác tại khu vực phường, xã.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, chú trọng nâng cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu. Nâng cao hiệu quả cơ chế "một cửa liên thông"; xây dựng tiêu chí để đánh giá mức độ thực hiện cải cách hành chính, thực thi công vụ để làm cơ sở kiểm tra, thanh tra và đánh giá hàng năm. Tiếp tục thực hiện tốt chương trình công tác cải cách tư pháp đến năm 2010.
- Tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Chỉ đạo tỉnh về phòng, chống tham nhũng; xây dựng quy chế, phối hợp; tập trung một số lĩnh vực trọng điểm (xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý tài chính ngân sách, quản lý tài sản công); tập trung giải quyết những vụ án tham nhũng.
7. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.
- Cụ thể hóa và triển khai thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam; công tác thanh niên; xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới.
- Khắc phục tình trạng hành chính hóa, không sâu sát dân, phô trương, hình thức; mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng; phát huy tốt hơn nữa vai trò giám sát, phản biện xã hội của MTTQ và các đoàn thể; phát triển mạnh lực lượng nòng cốt.
- Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, vận động phù hợp với các đối tượng quần chúng; nắm bắt kịp thời tình hình tư tưởng, đời sống của nhân dân, nhất là công nhân, đồng bào có đạo, có biện pháp hạn chế khiếu kiện, đình công, lãn công.
- Tăng cường công tác dân vận của các cấp chính quyền; chú trọng giải pháp nâng cao chất lượng dân chủ đại diện, phát huy mạnh mẽ dân chủ trực tiếp và hiệu quả của hoạt động thanh tra nhân dân.
8. Đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
- Đổi mới phương thức, đa dạng hóa các hình thức giáo dục chính trị tư tưởng, công tác triển khai quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, thực hiện đạt hiệu quả cao Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Làm tốt việc quản lý công tác thông tin báo chí, đảm bảo chủ động thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác, đúng định hướng về những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.
- Tiếp tục kiện toàn và nâng cao năng lực lãnh đạo, tổ chức cơ sở Đảng ở các loại hình. Gắn xây dựng tổ chức cơ sở Đảng với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở; nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đội ngũ đảng viên. Đẩy mạnh công tác phát triển Đảng đạt chỉ tiêu theo định hướng Nghị quyết Đại hội.
- Đổi mới nội dung và phương pháp đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên.
- Tiếp tục đổi mới đồng bộ các khâu của công tác cán bộ. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức theo chức danh cán bộ. Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Quyết định số 140-QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thu hút cán bộ có trình độ cao đẳng và đại học về công tác tại xã, phường, thị trấn. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; tiếp tục rà soát chất lượng chính trị đội ngũ cán bộ, đảng viên chuẩn bị nhân sự đại hội Đảng các cấp, nhiệm kỳ 2010 - 2015.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức Đảng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong Đảng, đối với công tác kiểm tra của Đảng. Biểu dương khen thưởng, khắc phục được những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha; đồng thời xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm.
|
Những vấn đề mà Hội nghị giữa nhiệm kỳ Đảng bộ tỉnh kiến nghị với Trung ương - Tăng cường chỉ đạo công tác quản lý vùng kinh tế trọng điểm: bảo vệ môi trường, phát triển hạ tầng kinh tế kỹ thuật, nhất là quản lý môi trường nguồn nước, phát triển các tuyến giao thông trọng điểm. Cơ chế đặc thù về tài chính - ngân sách cho các địa phương thuộc vùng này để đáp ứng yêu cầu khai thác tốt tiềm năng, khả năng của các tỉnh và toàn vùng, như: tỷ lệ điều tiết ngân sách; đặc biệt là xem xét đến yếu tố dân nhập cư của các địa phương, tăng vốn đầu tư các công trình trọng điểm, phân cấp quản lý tài chính - ngân sách. - Đổi mới việc ra Nghị quyết theo hướng giảm bớt số lượng Nghị quyết ban hành trong một nhiệm kỳ; xác định rõ thời gian hiệu lực của từng Nghị quyết hoặc phân kỳ cụ thể việc thực hiện cho từng Nghị quyết . - Có hướng dẫn đổi mới phương thức triển khai học tập Nghị quyết ở từng cấp bộ Đảng, nhất là ở cấp cơ sở theo hướng giảm bớt thời gian, nâng cao hiệu quả và phù hợp trình độ từng đối tượng. - Có hướng dẫn về việc xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể hóa các Nghị quyết của Trung ương đối với cơ sở theo hướng ngắn, gọn, dễ hiểu, dễ làm. - Đổi mới việc sơ kết, tổng kết các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng theo hướng giảm bớt tổ chức hội nghị. Đề nghị trong 5 năm chỉ sơ kết một lần vào thời điểm 3 năm và tổng kết một lần vào thời điểm 5 năm. |
- Cải tiến quy trình ra Nghị quyết của Đảng, tiếp tục đổi mới việc xây dựng các kế hoạch thực hiện Nghị quyết của Đảng theo phương châm cụ thể hóa nội dung công việc, phân công rõ trách nhiệm và hạn định rõ thời gian.
- Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt các ngành, các cấp trong hệ thống chính trị phải nêu cao ý thức trách nhiệm, thật sự gương mẫu theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giữ vững đoàn kết trong từng cấp ủy, từng tổ chức Đảng từ tỉnh đến cơ sở; đồng thời luôn cố gắng cao nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, nhiệm vụ của Nhà nước và chăm lo đời sống nhân dân với quyết tâm thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh trước thời gian, tạo tiền đề quan trọng cho thời kỳ 2010-2015 của tỉnh.
Kết thúc Hội nghị, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa VIII) kêu gọi "Các cấp, các ngành, toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh tiếp tục phát huy tinh thần sáng tạo, đoàn kết, khắc phục khó khăn, quyết tâm tổ chức thực hiện thắng lợi các giải pháp Hội nghị kiểm điểm giữa nhiệm kỳ BCH Đảng bộ tỉnh đã đề ra; phấn đấu thực hiện đạt, vượt các mục tiêu, chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh".







![[Video] Độc lạ “đại lão si” trăm thân tại Đồng Nai](/file/e7837c02876411cd0187645a2551379f/052026/screenshot_1778286920_20260509073701.jpeg?width=400&height=-&type=resize)









