Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

KỶ NIỆM 101 NĂM NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM (21-6-1925 - 21-6-2026)
Khi ngòi bút đứng về chính nghĩa

Mai Sông Bé
06:24, 20/06/2026

Ngày 20-12-1993, Ðại hội đồng Liên hợp quốc thông qua nghị quyết lấy ngày 3-5 làm Ngày Tự do báo chí thế giới, là ngày của các nhà báo trên toàn thế giới. Như vậy, kể từ khi tờ Relation aller Fürnemmen und gedenckwürdigen Historien ra đời (năm 1605), phải mất 388 năm các nhà báo thế giới mới có một ngày kỷ niệm riêng của mình.

Phóng viên báo chí tác nghiệp tại Dự án Khu tái định cư Sân bay Long Thành (thành phố Đồng Nai). Ảnh: Mai Sông Bé

Trong khi đó, báo chí Việt Nam ra đời muộn hơn báo chí thế giới 260 năm (1865) và báo chí cách mạng Việt Nam ra đời muộn đến 320 năm (1925) nhưng đến tháng 12-1985, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã quyết định lấy ngày 21-6 làm Ngày Báo chí Việt Nam và đến năm 2000, ngày 21-6 được Bộ Chính trị chọn là Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam.

Đến nay, Việt Nam là quốc gia duy nhất trong 193 quốc gia, vùng lãnh thổ là thành viên Liên hợp quốc có ngày dành riêng cho báo giới. Khi nêu nội dung này với tư cách là người hơn nửa cuộc đời gắn bó với nghề cầm bút, người viết xin thưa rằng: được làm một nhà báo (chân chính) ở Việt Nam là một điều rất hạnh phúc. Hạnh phúc bởi vì được dấn thân, được phụng sự cho độc lập, tự do, cho dân cường, nước thịnh, cho dân tộc tiến lên ngang tầm thời đại, cho Tổ quốc sánh cùng với các cường quốc năm châu…

1. Trong mấy mươi năm lăn lộn qua mấy châu lục, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc vừa lao động vất vả để kiếm sống vừa học kỹ năng sống để tồn tại và hoạt động cách mạng. Người ta thấy Nguyễn Ái Quốc còn dành nhiều thời gian để học tiếng Pháp và học cách viết các bài báo bằng tiếng Pháp. Được sự giúp đỡ tận tình của những người bạn Pháp, đặc biệt là của Jean Longeut (chủ bút Báo Nhân Đạo), Gaston Monmousseau (chủ bút Báo Đời sống Công nhân) giúp Nguyễn Ái Quốc viết từ những bản tin vắn đến các bài bình luận quốc tế sắc sảo. Không chỉ viết báo bằng tiếng Pháp, Nguyễn Ái Quốc còn viết những bài bình luận các vấn đề quốc tế bằng tiếng Nga đăng trên các báo Pravda (Sự Thật), Tạp chí Quốc tế cộng sản, Các vấn đề về phương Đông…

Không chỉ đặt bút viết những vấn đề gai góc mang tính thời đại của những năm đầu thế kỷ 20 bằng ngôn ngữ của các nước châu Âu, Nguyễn Ái Quốc đã vươn lên trở thành người sáng lập và quản lý một tờ báo quốc tế in bằng tiếng Pháp. Đó là tờ báo Le Paria (Người Cùng Khổ) cơ quan của Hội Liên hiệp thuộc địa xuất bản giữa thủ đô nước Pháp để làm phương tiện hô hào nhân dân các thuộc địa đứng lên chống bọn thực dân. Mà đâu chỉ sáng lập tờ Le Paria, theo một nghiên cứu gần đây, người ta được biết Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã sáng lập định hướng cho cả thảy 9 tờ báo, mà nội dung tờ báo nào cũng rực lửa đấu tranh chống áp bức bất công.

Cùng với việc trông nom một cách chuyên cần về quản trị cho từng tờ báo, thường xuyên thổi hồn nội dung chính trị giàu tính chiến đấu làm cho tờ báo có sức sống, Nguyễn Ái Quốc còn trực tiếp viết báo như một nhà báo chuyên nghiệp. Dù quỹ thời gian có hạn nhưng cùng với việc nghĩ và thực hiện các hoạt động vì “độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi”, Người còn chăm lo cho việc thực hiện đoàn kết và tự do cho các dân tộc thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã viết hơn 2 ngàn bài báo bằng các thứ tiếng như: Việt, Pháp, Anh, Nga, Trung…

 Từ những hoạt động báo chí của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, chúng ta thành kính gọi Người là một nhà báo quốc tế vĩ đại. Nhà báo quốc tế ấy đã trở thành biểu tượng của dân tộc Việt Nam, viết nên những dòng chữ mở đầu cho nhiều chương mới trong tiến trình lịch sử dân tộc, đồng thời góp phần tạo nên những tác động sâu rộng đối với thời đại.

2. Trong thế kỷ XX, nhân loại chứng kiến các cuộc đại chiến thế giới là chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh vùng vịnh, chiến tranh lạnh... nhưng chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh kéo dài nhất, ác liệt nhất, gây ra những hệ lụy lâu dài nhất. Cho nên Việt Nam trở thành tâm điểm thu hút sự quan tâm của các cơ quan truyền thông lớn trên thế giới và họ đã cử những nhà báo xuất sắc đến Việt Nam để đưa tin.

Có thể những nhà báo quốc tế này đến Việt Nam với những mục đích, quan điểm chính trị, tình cảm dân tộc, tình cảm cá nhân khác nhau nhưng phần lớn trong số họ đều có mẫu số chung là lòng dũng cảm nghề nghiệp. Bởi vì chấp nhận làm một phóng viên chiến trường là chấp nhận đối diện với chiến tranh, cái chết có thể xảy ra. Dẫu biết là vậy nhưng họ đã đến. Ngay từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp, đã có hàng chục nhà báo quốc tế đến với Việt Bắc, thủ đô gió ngàn, đến với Hồ Chí Minh. Và một trong những nhà báo quốc tế đầu tiên vượt rừng sâu, núi cao để đến chiến khu Việt Bắc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người từng gửi những bức thư tâm huyết tới Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman - là nhà báo Australia Wilfred Burchett. Cùng với ông còn có Joseph R. Tarobin (Hoa Kỳ). Và nhiều nhà báo quốc tế đã đến Việt Nam tìm hiểu, phản ánh cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam mà đỉnh cao chói lòa của chính nghĩa ấy là chiến thắng Điện Biên Phủ.

Đến khi Hoa Kỳ trực tiếp đưa quân vào miền Nam, mở rộng ném bom ra miền Bắc (1965) thì báo chí quốc tế đặc biệt chú ý đến Việt Nam. Các cơ quan truyền thông lớn của Liên Xô, Trung Quốc, Cuba, Triều Tiên, Nhật Bản, Pháp… đã cử các nhà báo vào tận những cánh rừng nhiệt đới miền Nam để gặp gỡ “Việt cộng”. Trong số họ, có những nhà báo nữ đã đặt dấu chân trên các nẻo đường chiến tranh, như: Madleine Riffaud (Pháp), Francoise Dermulder (Pháp), Michele Ray (Pháp)… bằng tấm lòng, sự dũng cảm và thái độ trung thực nghề nghiệp được đăng tải trên những trang viết, cô đọng trong những tấm ảnh, đoạn phim về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

3. Theo số liệu chưa chính thức, chỉ tính trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (1954 -1975) - giai đoạn mà báo chí phương Tây gọi là chiến tranh Đông Dương lần thứ 2 đã có khoảng 63 nhà báo quốc tế bị thiệt mạng khi tác nghiệp ở Việt Nam. Trong đó, Hoa Kỳ có 20 người; Nhật Bản, Pháp mỗi nước có 14 người bị thiệt mạng. Có trường hợp như ký giả Paul Leandri, Phó Văn phòng Hãng Thông tấn xã AFP (Pháp) bị cảnh sát Sài Gòn bắn chết tại Tổng Nha Cảnh sát vì đưa tin Buôn Ma Thuộc thất thủ hay như nhà báo Mỹ Terry Khoon của Hãng Thông tấn UPI được xem là mất tích năm 1970 (chưa tìm thấy hài cốt). Trong số hơn 500 nhà báo liệt sĩ của Việt Nam đã ngã xuống, có hơn 60% số liệt sĩ chưa tìm thấy hài cốt, thân xác của họ hòa vào lòng đất mẹ Việt Nam, góp phần làm cho đất nước thăng hoa bằng tư thế của dáng đứng Việt Nam thế kỷ XX và tiếp tục bồi đắp cho dáng đứng Việt Nam thế kỷ XXI.

Cũng để góp một chút tình yêu cho Tổ quốc của Hồ Chí Minh, có một người bạn Pháp đã để lại di nguyện mong muốn góp một phần tro cốt cho nước Việt Nam, nơi ông ấy từng hoạt động báo chí. Người đó là Geoger Boudarel, vốn là một thầy giáo dạy triết học ở Sài Gòn đã tự nguyện vào rừng ở miền Đông làm ở Ban Tiếng Pháp của Đài Phát thanh Sài Gòn - Chợ Lớn tự do, tiếng nói bất khuất của nhân dân đô thành phát từ Chiến khu Đ. Sau đó làm ở Đài Tiếng nói Nam Bộ kháng chiến ở Đồng Tháp Mười, rồi ra Bắc công tác ở Nhà xuất bản Ngoại Văn, từng bị tòa án binh của Pháp kết án tử hình.

Các nhà báo Việt Nam hôm nay có thêm niềm tự hào khi được sáng tạo và cống hiến trong thời đại Hồ Chí Minh - Người đã sớm sử dụng báo chí làm diễn đàn đấu tranh vì tự do, công bằng và quyền lợi của các dân tộc thuộc địa từ hơn một thế kỷ trước.

Hôm các nhà báo đứng bên chiếc cầu gãy trên Sông Bé rải những nắm tro của Boudarel xuống sông thật xúc động. Xúc động bởi tấm lòng trong muôn triệu tấm lòng của nhân loại tiến bộ, trong đó có những tấm lòng của nhiều nhà báo quốc tế đã bất chấp hiểm nguy đến với Việt Nam, góp phần làm cho chính nghĩa Việt Nam sáng lòa trong lòng nước Mỹ, sáng lòa trên bầu trời quốc tế. Để từ đó có những cuộc xuống đường phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ ở Việt Nam.

Cảm ơn, xin cảm ơn tấm lòng của các nhà báo quốc tế!

Mai Sông Bé

Tin xem nhiều