
Trong số những văn nghệ sĩ thành danh trước Cách mạng tháng Tám 1945, Xuân Diệu là người nói đến sự thay đổi, sự chuyển biến trong tâm hồn và tư tưởng một cách đầy đủ, kỹ lưỡng nhất. Có thể nói, nhà thơ cũng là một trong những người sớm nhất gắn tư cách công dân với người nghệ sĩ một cách trọn vẹn. Chính vì thế, nhà thơ đã đón nhận cuộc sống mới của một nước Việt Nam mới một cách nồng nhiệt và tự giác với những vần thơ mới mẻ, tươi vui nói về sự đổi thay và không khí sục sôi của ngày ấy. Trong những vần thơ diệu vợi đó, có “Ngọn quốc kỳ”- khúc tráng ca dài có sức sống đi cùng năm tháng.
Trong số những văn nghệ sĩ thành danh trước Cách mạng tháng Tám 1945, Xuân Diệu là người nói đến sự thay đổi, sự chuyển biến trong tâm hồn và tư tưởng một cách đầy đủ, kỹ lưỡng nhất. Có thể nói, nhà thơ cũng là một trong những người sớm nhất gắn tư cách công dân với người nghệ sĩ một cách trọn vẹn. Chính vì thế, nhà thơ đã đón nhận cuộc sống mới của một nước Việt Nam mới một cách nồng nhiệt và tự giác với những vần thơ mới mẻ, tươi vui nói về sự đổi thay và không khí sục sôi của ngày ấy. Trong những vần thơ diệu vợi đó, có “Ngọn quốc kỳ”- khúc tráng ca dài có sức sống đi cùng năm tháng.
“Ngọn quốc kỳ”
- khúc tráng ca viết ngay trong không khí sục sôi của toàn dân tộc, là một minh chứng cho quan niệm sống hết mình với cuộc đời và thơ của Xuân Diệu. “Ngọn quốc kỳ” có thể được xem là tác phẩm thơ Xuân Diệu viết dài ngày nhất trong đời thơ của ông. Suốt 3 tháng với cái thiết tha, rạo rực, băn khoăn, trong cái cảm giác của “nắng thu sáng chói đến gay gắt, dưới trời xanh có một ngọn cờ đỏ sao vàng chót vót nổi bật, một cảm giác mùa xuân dân tộc ta đi trong ngọn sóng người”, nhà thơ đã sáng tác và đã thay mặt các nhà thơ lãng mạn Việt Nam giương cao “Ngọn quốc kỳ” một cách tự hào. Với “Ngọn quốc kỳ”, Xuân Diệu tự nguyện thay đổi mình, thay đổi phong cách thơ, hay nói cách khác là phát triển phong cách thơ Xuân Diệu từ thơ ca lãng mạn thành thơ ca lãng mạn cách mạng.Sau 65 năm, chúng ta cảm động đọc lại những câu thơ đầy chất tráng ca của Xuân Diệu: ... “Gió reo, gió reo, gió Việt Nam reo/ Mây bay, mây bay, mây hồng tươi sáng/ Gió ca trên non, gió ngợi trên đèo/ Gió hát trên đồng: máu đỏ cao treo/ Gió bay đi, mà nhạc cũng bay theo/ Đưa tin mới khắp trên trời nước Việt/ Hoa cỏ đón, mà núi sông cũng biết/ Cờ Việt Nam oanh liệt gió mừng bay!/ Vàng huy hoàng sinh giữa thắm hây hây/ Thắm lộng lẫy nở quanh vàng rực rỡ/ Tất cả vải là một cười thắm đỏ!/ Tất cả cờ là một tiệc triêu dương!...”. Hay: “... Gió đã lên! gió dậy khắp sơn hà!/ Gió đã nổi! gió thổi cờ vun vút/ Như tất cả ngọn sóng triều ngùn ngụt:/ Khiến quốc dân đều tỉnh dậy, nhìn lên.../ Một luồng vui căng hết ngực thanh niên/ Những men mới trộn vào lòng đất nước/ Khít răng lại, đứng vào hàng cứu quốc/ Mở lòng ra, ôm đón lấy sao vàng...”. Vâng, không phải dễ dàng gì mà với một thi sĩ, chỉ mới hôm qua, hôm kia thôi những vần thơ của ông là những vần thơ về nỗi buồn vô cớ trên gương mặt những thiếu nữ quý phái, chỉ biết khóc thương cho thân phận người kỹ nữ cô đơn đến tê tái, tuyệt vọng, người đã từng tuyên bố “tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ lắm; chỉ biết yêu thôi, chẳng biết gì” lại bước vào hàng ngũ của những người cách mạng để viết được những dòng thơ hào hùng như có lửa: “Mấy phen từng gian khổ với chua cay/ Có một buổi cờ về Hà Nội/ Về ngự trị ở trên đài sáng chói/ Giữa dân gian trong những tiếng hoan hô/ Ngự trên cây, trên phố, ngự trên hồ/ Cờ chiến thắng! Cách mạng thành Tháng Tám!”. Sự đổi thay đến kỳ diệu. Là “ông hoàng thơ tình”, Xuân Diệu ca ngợi Cách mạng tháng Tám bằng một phong cách thơ sử thi quần chúng như truyện sử, như truyện thơ dân gian, là ca ngợi sự nghiệp của nhân dân, dân tộc, và gắn mình với sứ mệnh dưới “Ngọn quốc kỳ”: “Cánh sao mai đưa lại ánh vừng dương/ Cả buổi sáng cũng thoát từ buổi ấy/ Toàn dân Việt như hẹn giờ đứng dậy:/ Tỉnh Hóc Môn, rồi lại thức Đô Lương/ Bắc Sơn rồi, Thái Nguyên dậy phá cương!/ Nhưng cờ đó, mà mấy ai đã biết?/ Lưới quân cướp vẫn bủa giăng trùng điệp/ Hồn non sông phải náu giữa chông gai/ Bốn năm dư mang mẻ nỗi ai hoài/ Như Thái Tổ ở Lam Sơn ngày trước/ Đường tranh đấu dẫu gieo neo: cứ bước!/ Kịp khi vang súng mồng chín tháng Ba/ Gió đã lên! gió dậy khắp sơn hà!/ Gió đã nổi! gió thổi cờ vun vút/ Như tất cả ngọn sóng triều ngùn ngụt:/ Khiến quốc dân đều tỉnh dậy, nhìn lên...”. Điều đáng trân trọng xen lẫn niềm tự hào là, hai tháng sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, đã có rất nhiều người thuộc và say mê ca hát cùng thi sĩ những vần thơ như rút từ những sợi tơ lòng như vậy.
Với 203 câu thơ, “Ngọn quốc kỳ” của nhà thơ Xuân Diệu đã luôn làm sống dậy trong ta những nỗi niềm tự hào, trân trọng và biết ơn. Ta trân trọng, tự hào và biết ơn bởi “Trước ngày Tổng khởi nghĩa, dân ta không có quốc kỳ... Cách mạng tháng Tám thành công đưa lên ngôi thiêng liêng lá Cờ đỏ sao vàng duy nhất, tượng trưng cho Tổ quốc. Và đây là một ấn tượng hào hùng đẹp đẽ vô hạn” (Cái thuở ban đầu Dân quốc ấy - Toàn tập Xuân Diệu, tập IV). Ấn tượng ấy đã biến thành những câu thơ tươi sáng, nhiệt thành ở “Ngọn quốc kỳ”, mà từ ngữ quấn quýt vào nhau, như gió như mây khắp núi non ruộng đồng quyện với lá cờ sao vàng nền đỏ, để 65 năm rồi mà “Cờ là đó. Việt
Nguyễn Viết Chính



![[Loạt Video] NGHỊ QUYẾT SỐ 05-NQ/TU: TỪ NGHỊ QUYẾT ĐẾN HÀNH ĐỘNG - Đổi mới phương thức lãnh đạo trong thời số hóa - Kỳ cuối: Xây dựng Đảng thời số hóa - Thay tư duy, đổi tầm vóc](/file/e7837c02876411cd0187645a2551379f/102026/1791122331295_964200458188216973_g1544323820597726594_ef9e5feffd4ac36711db31e77d5d495f_20261004211845.jpg?width=400&height=-&type=resize)







