Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

GS.TS Hoàng Viết Ngữ, Trường đại học Công nghệ Queensland (Australia): Ðồng Nai giàu tiềm năng phát triển kinh tế vật liệu carbon

Bình Nguyên
05:59, 19/10/2026

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Đồng Nai và Trường đại học Công nghệ Queensland (Australia) vừa hợp tác tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế Công nghệ mới chuyển đổi phụ phẩm nông, lâm nghiệp thành vật liệu carbon giá trị cao. Hội thảo nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế, gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất và nhu cầu của doanh nghiệp (DN) trong việc tái tạo phụ phẩm thành nguồn nguyên liệu quý cho các quá trình sản xuất mới.

Trao đổi với phóng viên Báo và Phát thanh, Truyền hình Đồng Nai, GS.TS Hoàng Viết Ngữ, đại diện Trường đại học Công nghệ Queensland (Australia) chia sẻ chuyện hợp tác giữa Việt Nam và Australia trong thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới để biến những phụ phẩm nông, lâm nghiệp thành nguồn nguyên liệu quý phát triển nền kinh tế carbon. Thành phố Đồng Nai có nhiều lợi thế để phát triển nền kinh tế carbon.

Tăng cường hợp tác quốc tế

• Giáo sư có thể chia sẻ thêm về cơ hội hợp tác giữa Việt Nam và Australia trong nghiên cứu về lĩnh vực vật liệu mới và ứng dụng vật liệu mới từ phụ phẩm nông, lâm nghiệp?

- Australia giàu khoáng sản nhưng không phát triển mạnh về sản xuất pin trong khi nền kinh tế tuần hoàn cần rất nhiều nguồn pin. Australia có nhu cầu lớn về nhập khẩu mặt hàng này và mong muốn đa dạng nguồn nhập khẩu. Chính phủ Australia đưa nguồn ngân sách lớn để giúp các nhà khoa học của họ tiếp cận các thị trường Đông Nam Á với mong muốn đầu tư để đa dạng hóa nguồn cung cấp pin.

GS.TS Hoàng Viết Ngữ.

Trong đó, Việt Nam là thị trường chiến lược vì có nguồn phụ phẩm nông, lâm nghiệp rất lớn. Thay vì đây là gánh nặng môi trường thì có thể chuyển hóa thành nền kinh tế vật liệu carbon. Việt Nam còn có nền sản xuất công nghiệp tương đối phát triển, có lợi thế hơn nhiều nước Đông Nam Á khác như: chi phí sản xuất thấp hơn, phát triển khoa học của Việt Nam ở mức khá hơn... Chúng tôi mong kết nối với các nhà khoa học Việt Nam trong chuyển giao công nghệ của Australia, hợp tác nghiên cứu để tạo ra những công nghệ ứng dụng được tại Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Australia vừa ký thỏa thuận hợp tác về nghiên cứu khoa học. Theo đó, các trường đại học của Việt Nam có thể hợp tác với các trường đại học ở Australia trong chuyển giao công nghệ của Australia sang Việt Nam. Đồng thời, các nhà khoa học giữa 2 nước có thể hợp tác cùng nghiên cứu.

• Giáo sư đánh giá như thế nào về cơ hội để Đồng Nai đầu tư nghiên cứu và phát triển nền kinh tế vật liệu carbon?

- Đồng Nai có cơ hội rất quý so với các địa phương khác. Thứ nhất là nông, lâm nghiệp của Đồng Nai phát triển rất mạnh. Thứ hai là lượng rác thải rất cao. Thứ ba là Đồng Nai thu hút đông cả DN sản xuất công nghiệp trong nước và DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Thông điệp tôi muốn chia sẻ với các nhà khoa học, đặc biệt là những người đang nghiên cứu về lĩnh vực vật liệu mới và ứng dụng vật liệu mới này trong sản xuất pin, đó là: Nguồn lực về phụ phẩm nông, lâm nghiệp hiện nay rất nhiều, cần đầu tư có hệ thống, có chọn lọc để ưu tiên chọn các vật liệu có giá trị kinh tế cao.

GS.TS HOÀNG VIẾT NGỮ, Trường đại học Công nghệ Queensland (Australia)

Như vậy, Đồng Nai đã tạo ra được hệ sinh thái và có thể tiếp cận để xây dựng nền tảng phát triển nền kinh tế vật liệu carbon cũng như nâng tầm lên. Các địa phương khác không có lợi thế như Đồng Nai thì phải đi theo hướng sản xuất nhỏ lẻ. Đồng Nai có thể sản xuất từ quy mô nhỏ lẻ đến quy mô vừa và lớn.

Thành phố Đồng Nai nên phát huy công tác phối hợp giữa các sở, ngành để đưa ra những chiến lược trong việc thống kê, xác định nguồn rác, phế, phụ phẩm nông, lâm nghiệp; phân tích lợi thế kinh tế - xã hội ở từng khu vực trên địa bàn thành phố để đưa ra chiến lược xử lý các loại rác, phụ phẩm nông, lâm nghiệp ở khu vực cụ thể để đạt hiệu quả kinh tế tốt hơn.

Gắn kết nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất

• Giáo sư có thể chia sẻ thêm câu chuyện khó khăn trong việc thương mại hóa các đề tài nghiên cứu khoa học?

- Câu chuyện tôi muốn nói với các nhà khoa học là rất khó để chuyển giao các nghiên cứu cho DN. Đây cũng là nguyên nhân các DN, đặc biệt là các DN lớn thường chọn đi mua công nghệ, nhập khẩu công nghệ thay vì đầu tư để xây dựng công nghệ đó.

Bà Hoàng Thị Bích Hằng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Đồng Nai trao quà tri ân cho GS.TS Hoàng Viết Ngữ, Trường đại học Công nghệ Queensland (Australia).
Bà Hoàng Thị Bích Hằng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Đồng Nai trao quà tri ân cho GS.TS Hoàng Viết Ngữ, Trường đại học Công nghệ Queensland (Australia).

Ở góc độ kinh tế, đây không phải là điều xấu vì DN không thể chờ 5-10 năm nghiên cứu, thậm chí cần đến 30 năm nghiên cứu và thực nghiệm. DN bắt buộc phải đi nhanh hơn bằng cách mua công nghệ về.

Các nước, trong đó có Australia cũng gặp khó khăn trong nghiên cứu, sáng tạo đưa sản phẩm từ phòng thí nghiệm ra thị trường. Chính vì vậy, khoảng 15 năm trở lại đây, Chính phủ Australia đổi hướng trong đầu tư khoa học, chú trọng việc đưa ra các mô hình DN và nhà nghiên cứu hợp tác với nhau ngay từ đầu. Trong đó, nghiên cứu khoa học phải do chính DN đề xuất để các nhà khoa học triển khai rồi chuyển giao cho DN xây dựng lộ trình để thương mại hóa đề tài này. Đây cũng là hướng đi của các nước phát triển đang theo.

• Giáo sư muốn chia sẻ gì về câu chuyện hợp tác giữa các nhà khoa học và DN?

- Các đề tài nghiên cứu khoa học thành công đưa ra thị trường lệ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng sự thay đổi về mô hình hợp tác giữa DN và các nhà khoa học thực sự sẽ đem đến hiệu quả kinh tế. Khi DN biết rằng tôi có thị trường này và gặp khó khăn về bài toán kỹ thuật cần giải quyết, họ sẽ đặt hàng cho các nhà khoa học. Việc hợp tác đó không chỉ là DN đến các trường hoặc các trường tìm kiếm DN mà phải có sự tham gia của Chính phủ. Chính phủ Australia thấy rằng cầu nối chính là vai trò của Nhà nước và họ đầu tư rất nhiều ngân sách cho phát triển khoa học để phát huy vai trò cầu nối đó.

Việt Nam có nhiều nghiên cứu đã xuất bản quốc tế trong chuyển hóa rất nhiều phụ phẩm nông, lâm nghiệp thành than hoạt tính mang lại giá trị kinh tế cao.

Nhìn góc độ DN, cơ hội không chỉ dành cho những DN vừa và lớn. Những DN nhỏ vẫn có thể đầu tư với quy mô nhỏ, ứng dụng vào thực tế tại địa phương và tiếp cận thị trường địa phương. Bằng chứng là đã có DN vừa và nhỏ tại Việt Nam đầu tư thành công và hoàn toàn chủ động về quy trình sản xuất công nghệ đó từ A tới Z. Những DN vừa và nhỏ tại địa phương có thể chú trọng vào loại phụ phẩm phù hợp để ra sản phẩm cho giá trị kinh tế.

Ở cấp độ quốc gia, mục tiêu sẽ cao hơn, giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển rất nhanh. Những nhu cầu về xử lý nước ô nhiễm ở khu công nghiệp, ở hộ dân hay nhu cầu về lọc không khí… sẽ tạo ra các nhu cầu về than hoạt tính rất lớn. Hiện Việt Nam đã có các DN sản xuất than hoạt tính ở cấp độ quy mô công nghiệp.

• Trân trọng cảm ơn giáo sư!

Bình Nguyên (thực hiện)

Tin xem nhiều