Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Cải thiện môi trường sống cho thú rừng

An Nhơn
11:01, 31/10/2026

Nhiều năm qua, Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai (gọi tắt là Khu Bảo tồn, phường Trị An) triển khai nhiều giải pháp cải thiện môi trường sống cho các loài động vật hoang dã (ĐVHD) trong rừng.

Nhân viên Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai lắp đặt bẫy ảnh để theo dõi các loài thú.
Nhân viên Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai lắp đặt bẫy ảnh để theo dõi các loài thú.

Những việc làm thiết thực này góp phần bổ sung nguồn thức ăn, nước uống, duy trì sinh cảnh tự nhiên; đồng thời hạn chế nguy cơ voi, bò tót di chuyển ra ngoài rừng, gây xung đột với người dân vùng đệm.

Cải tạo sinh cảnh nơi rừng sâu

Sau những cơn mưa liên tiếp, cánh rừng rộng lớn của Khu Bảo tồn như được tiếp thêm sức sống. Đất rừng ẩm hơn, thảm thực vật bắt đầu xanh tốt. Đây cũng là thời điểm thuận lợi để lực lượng bảo tồn triển khai các hoạt động cải tạo sinh cảnh, tạo điều kiện cho ĐVHD tìm kiếm thức ăn và sinh sống trong môi trường tự nhiên.

Khoảng 7h, anh Nguyễn Mạnh Điệp, chuyên viên Phòng Bảo tồn thiên nhiên và hợp tác cùng đồng nghiệp chạy xe máy hàng chục cây số vào rừng sâu để cải tạo sinh cảnh. Công việc của các anh gồm: phát dọn thực bì, treo bánh muối khoáng và lắp đặt bẫy ảnh tại những khu vực được lựa chọn. Những phần việc này đòi hỏi sự tỉ mỉ và hiểu biết về đặc điểm sinh thái của từng loài. Trước khi thực hiện phải khảo sát địa hình, xác định vị trí phù hợp, lựa chọn khu vực có khả năng thu hút động vật để triển khai các biện pháp hỗ trợ hiệu quả.

“Việc duy trì phương án cải tạo sinh cảnh góp phần thực hiện nhiệm vụ bảo tồn, phát triển bền vững tài nguyên động vật rừng và đa dạng sinh học; đồng thời phục vụ mục tiêu bảo vệ, phát triển rừng theo phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn 2021-2030 đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt”.

Ông NGUYỄN ĐỨC TÚ, Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Bảo tồn thiên nhiên và hợp tác của Khu Bảo tồn

Anh Điệp giải thích: Việc xử lý thực bì tại những khu vực được lựa chọn nhằm tạo điều kiện cho cỏ non phát triển, đồng thời hỗ trợ các loài thực vật bản địa sinh trưởng. Khi thảm cỏ được phục hồi, nguồn thức ăn tự nhiên của động vật rừng cũng được bổ sung, góp phần duy trì sinh cảnh lâu dài.

Bên cạnh đó, bánh muối khoáng được treo tại những vị trí phù hợp để bổ sung khoáng chất cần thiết cho ĐVHD. Việc bố trí các điểm này phải phù hợp với điều kiện thực tế của từng khu vực và được theo dõi để đánh giá mức độ sử dụng của động vật.

Một phần việc quan trọng khác là lắp đặt bẫy ảnh. Những chiếc máy nhỏ gọn được bố trí tại các vị trí thích hợp, ghi lại hình ảnh động vật đi qua, kể cả vào ban đêm hoặc ở những nơi con người khó quan sát trực tiếp. Từ hình ảnh thu được, cán bộ, nhân viên bảo tồn có thêm cơ sở nhận biết thành phần loài, tần suất xuất hiện và mức độ sử dụng sinh cảnh của ĐVHD.

Theo anh Điệp, công tác cải tạo sinh cảnh được thực hiện theo từng đợt, gắn với hoạt động giám sát, đánh giá. Lực lượng chuyên môn trực tiếp quan sát bằng mắt thường hoặc sử dụng ống nhòm để ghi nhận các loài động vật xuất hiện trong khu vực. Với những loài nhạy cảm, quý, hiếm, việc quan sát phải bảo đảm khoảng cách phù hợp, tránh ảnh hưởng đến hoạt động tự nhiên của chúng. Mỗi lần bắt gặp ĐVHD, cán bộ ghi chép các thông tin cần thiết như: tên loài, số lượng cá thể, thời gian xuất hiện… vào biểu điều tra. Đối với những loài ít xuất hiện hoặc chủ yếu hoạt động vào ban đêm, bẫy ảnh là công cụ hỗ trợ đắc lực.

Không phải lúc nào ĐVHD cũng xuất hiện trước ống kính. Trong nhiều trường hợp, dấu chân, phân hoặc dấu đào bới trên mặt đất trở thành căn cứ quan trọng giúp lực lượng chuyên môn xác định sự hiện diện của chúng. Những dữ liệu thu thập được còn hỗ trợ đơn vị điều chỉnh biện pháp cải tạo sinh cảnh, hướng đến tạo lập môi trường sống phù hợp với tập tính của từng loài.

“Phương án này có kinh phí đầu tư không lớn nhưng mang lại giá trị thực tiễn cho công tác bảo tồn. Qua theo dõi, đơn vị có thể đánh giá khả năng sử dụng các điểm khoáng, xác định mức độ phân bố và tần suất xuất hiện của các loài thú. Đây là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện những biện pháp bảo vệ, phục hồi và phát triển hệ sinh thái, giá trị tài nguyên rừng” - anh Điệp chia sẻ.

Bảo vệ an toàn cho các loài thú

Khu Bảo tồn được giao quản lý hơn 100 ngàn hécta rừng, đất rừng và đất ngập nước nội địa. Với quy mô rộng lớn và giá trị sinh thái đặc biệt, nơi đây giữ vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu, bảo vệ nguồn nước và duy trì cân bằng sinh thái của thành phố cũng như khu vực Đông Nam Bộ.

Nhân viên Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai xử lý thực bì trong rừng, nhằm tạo nguồn thức ăn dồi dào cho đàn thú.
Nhân viên Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai xử lý thực bì trong rừng, nhằm tạo nguồn thức ăn dồi dào cho đàn thú.

Ông Nguyễn Đức Tú, Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Bảo tồn thiên nhiên và hợp tác của Khu Bảo tồn cho biết: Hệ sinh thái rừng tại đây là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật quý, hiếm, trong đó có các loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ của Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN). Vì vậy, duy trì và phục hồi chất lượng sinh cảnh là nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.

Những năm qua, đơn vị đã triển khai nhiều giải pháp cải thiện môi trường sống cho ĐVHD. Các hồ nước nhân tạo được xây dựng, duy tu để bổ sung nguồn nước; cống bi và đường dẫn nước được lắp đặt nhằm phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô và hỗ trợ cung cấp nước tại những khu vực phù hợp. Đơn vị cũng xây dựng các điểm khoáng nhân tạo, trồng bổ sung cây thức ăn bản địa, xử lý thực bì tại các trảng cỏ và phục hồi những bãi cỏ tự nhiên.

Các giải pháp được triển khai phù hợp với điều kiện sinh thái của từng khu vực, hướng đến duy trì nguồn nước, thức ăn và khoáng chất cho ĐVHD. Khi môi trường sống đáp ứng tốt hơn nhu cầu sinh tồn, động vật có thêm điều kiện sinh sống bên trong rừng, góp phần hạn chế việc di chuyển ra khu dân cư tìm kiếm thức ăn.

Tuy nhiên, công tác phục hồi sinh cảnh đang đối mặt với nhiều thách thức. Biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, tình trạng hạn hán kéo dài và sự xâm lấn của các loài thực vật ngoại lai có thể làm thay đổi cấu trúc thảm thực vật, thu hẹp trảng cỏ và khiến nguồn nước phân bố không đồng đều. Tại một số khu vực, nguồn thức ăn tự nhiên dành cho thú lớn cũng chịu tác động, đòi hỏi phải có giải pháp quản lý phù hợp, lâu dài.

Đáng chú ý, hoạt động của các loài thú lớn như voi châu Á và bò tót có thể mở rộng ra ngoài phạm vi rừng khi điều kiện sinh cảnh thay đổi hoặc nhu cầu tìm kiếm thức ăn, nước uống tăng lên. Khi động vật xuất hiện gần khu dân cư, nguy cơ xung đột giữa người và ĐVHD cũng gia tăng, tiềm ẩn thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng đến đời sống người dân vùng đệm.

Trước thực trạng nêu trên, việc tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và triển khai các giải pháp cải tạo sinh cảnh, phục hồi môi trường sống cho ĐVHD là yêu cầu cấp thiết. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng trong ổn định quần thể các loài thú lớn, hạn chế xung đột, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo đảm phát triển bền vững trong giai đoạn hiện nay cũng như những năm tiếp theo.

An Nhơn

Tin xem nhiều