Tiếng Việt không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là biểu tượng của văn hóa, lịch sử và bản sắc dân tộc Việt Nam. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, tiếng Việt trở thành sợi dây gắn kết cộng đồng, là cầu nối giữa các thế hệ và giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc Việt trong hội nhập quốc tế.
Giao lưu, tiếp biến văn hóa vùng miền giúp tiếng Việt trở nên phong phú, sinh động và đa dạng hơn nhờ sự giao lưu từ vựng và cách diễn đạt giữa các địa phương trên cả nước. Quanh vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Công Đức, nguyên Phó Trưởng khoa Văn học và Ngôn ngữ, Chủ nhiệm bộ môn Ngôn ngữ học, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh); Phó Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Thành phố Hồ Chí Minh đã dành cho phóng viên Báo và Phát thanh, Truyền hình Đồng Nai buổi trò chuyện lý thú về sự phát triển của tiếng Việt.
Ngôn ngữ của sự đa dạng trong thống nhất
• Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất của cộng đồng người Việt, nhưng giữa các vùng miền vẫn có những khác biệt về cách phát âm, từ ngữ và cách diễn đạt. Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, ông đánh giá thế nào về sự đa dạng này?
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Công Đức. |
- Trong tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ khác, có khái niệm “ngôn ngữ toàn dân”, tức là ngôn ngữ được cộng đồng sử dụng chung và về cơ bản mọi người có thể hiểu nhau. Nhưng trong ngôn ngữ toàn dân bao giờ cũng có những khác biệt nhất định giữa các vùng miền.
Người ở mỗi vùng miền có thể phát âm khác nhau, sử dụng một số từ ngữ khác nhau, thậm chí cùng một cách nói nhưng sắc thái cũng có thể khác. Những khác biệt đó là đặc điểm tự nhiên của ngôn ngữ, hình thành trong quá trình sử dụng lâu dài của các cộng đồng cư dân. Các phương ngữ không làm mất đi tính thống nhất của tiếng Việt; ngược lại, có thể nói chính trong cái thống nhất ấy luôn có sự đa dạng. Một người sử dụng cách phát âm hay từ ngữ mang đặc trưng địa phương vẫn đang sử dụng tiếng Việt.
Điều này cũng lý giải vì sao không thể yêu cầu người Việt ở mọi vùng miền phải phát âm, lựa chọn từ ngữ hay diễn đạt hoàn toàn giống nhau. Ngôn ngữ có tính cộng đồng nhưng đồng thời cũng mang dấu ấn của từng vùng đất và từng nhóm người sử dụng. Nhìn nhận được điều đó thì sẽ có cách ứng xử phù hợp hơn với sự khác biệt vùng miền trong tiếng Việt.
• Trong quá trình giao thoa, tiếp biến văn hóa giữa các vùng miền, nhiều từ ngữ địa phương có thể đi vào vốn từ chung. Có những trường hợp nào cho thấy chúng ta dễ hiểu nhầm về nguồn gốc của một từ ngữ?
- Tiếng vùng miền đi vào kho từ vựng quốc gia và có những trường hợp ngộ nhận. Như tiếng, chữ “bố” là cha, ba chẳng hạn, có người cho rằng đó là tiếng miền Bắc. Điều này không đúng. “Bố Cái Đại Vương” là tôn hiệu của Phùng Hưng từ năm 791, không là tiếng Việt toàn dân là gì? Từ thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, thực dân Pháp đô hộ, Nam Kỳ tự trị, Trung - Bắc bảo hộ, đại danh từ chỉ người cha là “bố” giảm dần trong giao tiếp ở miền Nam. Sau năm 1975, “bố” sống trở lại, bố là ba, cha thì ai cũng hiểu.
PGS.TS NGUYỄN CÔNG ÐỨC là chuyên gia về ngôn ngữ học lý thuyết, từ vựng - ngữ nghĩa học, ngôn ngữ học xã hội và ngôn ngữ học tri nhận. Ông hướng dẫn nhiều luận án tiến sĩ về ngôn ngữ học, là tác giả sách Từ điển Việt - M’nông; Bài giảng tiếng Việt và thực hành tiếng Việt cùng nhiều công trình khác.
Trong Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (còn gọi là Paulus Của), mục từ “bố cái” được giảng nghĩa là “cha mẹ” và dẫn chứng “Bố Cái Đại Vương”; còn dẫn thêm là một tước hiệu làm tướng đời nhà Trần.
Có những từ vùng miền ít xuất hiện trong giao tiếp toàn dân nhưng khi xuất hiện trong một bối cảnh, ngữ cảnh nào đó thì ai cũng hiểu. Như “chốn mô?” ở Huế và Bắc Trung Bộ ai cũng hiểu là “ở đâu?”.
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong thời đại mới
• Không chỉ phương ngữ, đời sống xã hội còn liên tục tạo ra những từ lóng, cách nói mới, đặc biệt là trên internet. Theo ông, quá trình này tác động như thế nào đến sự phát triển của tiếng Việt?
- Sáng tạo là một thuộc tính của ngôn ngữ, hình thành vốn từ vựng mới. Có những sáng tạo thành công nhưng cũng có trường hợp không thành công, bị đào thải. Đây là quá trình tự nhiên để bảo vệ sự trong sáng của bất kỳ một thứ tiếng nào đó.
![]() |
| Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh - một không gian góp phần lan tỏa văn hóa đọc, ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Ảnh minh họa |
Như từ “trẻ trâu” chẳng hạn, trước đây ít nghe nhưng bây giờ xuất hiện nhiều, như trong các ngữ cảnh “chuyện ấy, tôi như trẻ trâu”, “thời trẻ trâu của tôi”… Người nói khiêm tốn tự nhận kém về một chuyện, đề tài nào đó.
Sáng tạo không chỉ là đơn vị từ mà nhiều trường hợp trở thành thành ngữ, như “Đông như quân Nguyên”. Ai cũng biết quân Nguyên - Mông 3 lần xâm lược nước ta dưới triều Trần, đều bị nước ta đánh tan tác. Hoặc như “xưa rồi Diễm” là từ bài hát nổi tiếng Diễm xưa của Trịnh Công Sơn. Trong bóng đá có câu tường thuật “đường chuyền 5/5”, nội dung rút ngắn của “5 ăn, 5 thua”.
Thời đại internet cũng có những biểu hiện tiêu cực như: biến từ đúng thành sai chính tả. Điều này có thể chấp nhận trong giao tiếp cá nhân, nhưng xuất hiện trên các nền tảng cộng đồng thì không nên, như “thôi đi chụy (chị)”, “chụy ơi…" những ví dụ này vô số. Trên internet còn có những biểu tượng, biểu ý rất phản cảm. Chẳng hạn, khen “tuyệt vời” có biểu tượng “toẹt vời… Rất nhiều loại như vậy.
• Vậy thì cần lưu ý thế nào trong vấn đề này, thưa ông?
- Điều quan trọng là phải phân biệt sáng tạo ngôn ngữ với việc cố tình làm sai chính tả hoặc làm biến dạng tiếng Việt. Trên internet, trong giao tiếp cá nhân, chúng ta bắt gặp những cách viết như “thôi đi chụy”, “chụy ơi”… Đây là cách chơi chữ, tạo sắc thái riêng trong một nhóm giao tiếp. Nhưng nếu những cách viết đó được đưa vào các nền tảng giao tiếp cộng đồng, văn bản chính thức hoặc môi trường cần sự chuẩn xác thì không nên.
Internet cũng tạo ra nhiều biểu tượng, cách viết và cách diễn đạt mới. Có những cách sáng tạo rất thú vị, nhưng cũng có những biểu tượng hoặc cách biểu đạt phản cảm. Cộng đồng sẽ là nơi sàng lọc những sáng tạo ấy.
• Từ câu chuyện phương ngữ đến những cách nói mới trong đời sống, điều ông muốn nhắn gửi tới người sử dụng tiếng Việt hôm nay là gì?
- Tuyệt đối không nên kỳ thị tiếng nói vùng miền. Tiếng Việt có từ rất hay là “đồng bào”. Trong truyền thuyết, mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, nở ra trăm con, cùng trong một bọc, một bao.
Vì sao trong giao tiếp dễ dàng dùng “OK”, “Yes”, “No”, “Non”, “Oui”… còn “mô, tê, răng, rứa”… thì không?
Trong giao tiếp, nói làm sao để đối tượng giao tiếp hiểu đúng ý, nội dung mình cần truyền đạt. Giao tiếp bằng tiếng nói, chữ viết mang hàm lượng văn hóa rất cao. “Lời nói không mất tiền mua/Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, “tiếng nói, đọi máu”, “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”… ông cha ta đã dạy vậy.
Vì vậy, thay vì kỳ thị sự khác biệt vùng miền, chúng ta nên nhìn nhận đó là một phần tự nhiên của tiếng Việt. Chính quá trình giao tiếp, tiếp xúc và giao thoa giữa các vùng miền sẽ tiếp tục làm cho tiếng Việt phong phú.
• Trân trọng cảm ơn ông!
Vương Thế - Trị An (thực hiện)




![[Video] Đường ven sông Cái tăng tốc thi công, mục tiêu hoàn thành trong năm 2026](/file/e7837c02876411cd0187645a2551379f/102026/bia_20261014083121.jpg?width=400&height=-&type=resize)
![[Chùm ảnh] Ngắm muông thú ở Vườn quốc gia Cát Tiên](/file/e7837c02876411cd0187645a2551379f/102026/5t_20261009112725.jpg?width=500&height=-&type=resize)








Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin