Sáu tháng đầu năm 2026, dòng vốn FDI tiếp tục chảy mạnh vào Việt Nam. Riêng tại các khu công nghiệp, khu kinh tế thành phố Đồng Nai, tổng vốn đăng ký cấp mới và điều chỉnh đạt hơn 1,24 tỷ USD. Đáng chú ý, trong 41 dự án mới được cấp phép có tới 14 dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, chiếm gần 66% tổng vốn đăng ký mới. Đây đều là những ngành mà giá trị doanh nghiệp không còn chỉ nằm ở nhà xưởng hay máy móc, mà còn ở công nghệ, quy trình sản xuất, thiết kế, khuôn mẫu và các tài sản trí tuệ khác.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hồng Hiếu - Giám đốc Công ty cổ phần Monday VietNam, chuyên gia có hơn 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực xác lập, quản trị, bảo vệ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ, nhiều doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam vẫn áp dụng nguyên quy trình quản trị tài sản trí tuệ của tập đoàn mẹ. Trong khi đó, một số quy định pháp luật tại Việt Nam có những yêu cầu riêng mà nếu không được xử lý ngay từ đầu, doanh nghiệp có thể phát sinh thêm chi phí, kéo dài thời gian hoặc thậm chí mất quyền đối với tài sản trí tuệ.
Dẫn chiếu dưới đây theo Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 67/VBHN-VPQH ngày 23-3-2026.
![]() |
1. Ngày nộp đơn ở nước ngoài không tự chuyển sang Việt Nam
Một hiểu lầm phổ biến ở doanh nghiệp FDI là khi cho rằng nhãn hiệu, sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp đã được đăng ký ở nước ngoài thì khi đầu tư vào Việt Nam sẽ mặc nhiên được bảo hộ. Thực tế không phải vậy.
Văn bằng bảo hộ chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ Việt Nam (khoản 1 Điều 93). Vì vậy, nếu có nhiều chủ thể cùng đăng ký nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn cho sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự, văn bằng chỉ được cấp cho đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất (khoản 2 Điều 90).
Pháp luật cho phép người nộp đơn hưởng quyền ưu tiên để giữ lại ngày nộp đơn đầu tiên nếu đáp ứng các điều kiện tại Điều 91. Tuy nhiên, quyền này chỉ được áp dụng trong thời hạn do điều ước quốc tế quy định, khác nhau theo từng đối tượng bảo hộ, nên doanh nghiệp cần tính toán ngay từ khi nộp đơn đầu tiên ở nước ngoài.
Một mốc thời gian khác doanh nghiệp thường bỏ qua là thời điểm công bố sản phẩm. Nếu sản phẩm đã được công bố trước khi nộp đơn thì cơ hội đăng ký vẫn chưa hẳn mất, nhưng chỉ trong phạm vi thời gian pháp luật cho phép. Đối với sáng chế, đơn phải được nộp tại Việt Nam trong vòng 12 tháng kể từ ngày bộc lộ công khai; đối với kiểu dáng công nghiệp là 6 tháng (khoản 3 Điều 60, khoản 4 Điều 65).
2. Công ty mẹ không tự nộp đơn tại Việt Nam được
Không phải mọi công ty mẹ ở nước ngoài đều có thể trực tiếp nộp đơn đăng ký tại Việt Nam. Theo đó, chỉ pháp nhân thành lập tại Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mới được tự mình hoặc thông qua đại diện hợp pháp nộp đơn (khoản 1 Điều 89). Trường hợp tổ chức nước ngoài không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam thì bắt buộc phải nộp đơn thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam (khoản 2 Điều 89). Vì vậy, doanh nghiệp cần xác định ngay từ đầu chủ thể sẽ đứng tên đơn đăng ký, bởi việc thay đổi chủ đơn sau khi nộp là một thủ tục riêng, chi phí phát sinh riêng.
Song song với việc nộp đơn, doanh nghiệp cũng cần theo dõi các đơn đăng ký của bên thứ ba đã công bố để kịp thời thực hiện quyền phản đối, bởi thời hạn thực hiện quyền này chỉ là 3 tháng kể từ ngày công bố đơn (khoản 1 Điều 112a).
3. Hai điều khoản hợp đồng quen thuộc của tập đoàn có thể không được công nhận tại Việt Nam
Với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí, quyền đăng ký thuộc về tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (điểm b khoản 1 Điều 86). Nếu nhiều bên cùng tạo ra hoặc cùng đầu tư, tất cả đều có quyền đăng ký và quyền đó chỉ thực hiện được nếu tất cả đồng ý (khoản 2 Điều 86). Quy tắc tương tự áp dụng cho quyền tác giả, gồm cả chương trình máy tính (Điều 39).
![]() |
Qua thực tiễn tư vấn, Monday VietNam ghi nhận cách hiểu khá phổ biến trong doanh nghiệp FDI là chỉ cần ràng buộc “mọi tài sản trí tuệ thuộc doanh nghiệp” trong hợp đồng thì có thể kiểm soát toàn bộ quyền sở hữu trí tuệ phát sinh. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, điều khoản này không thể thay thế hai nghĩa vụ quan trọng:
Thứ nhất, về thù lao cho tác giả. Quyền tài sản của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là quyền nhận thù lao theo Điều 135 (khoản 3 Điều 122). Không có thỏa thuận thì áp mức 10% lợi nhuận trước thuế tương ứng với giá trị mà đối tượng đóng góp nếu chủ sở hữu tự sử dụng, hoặc 15% tổng số tiền nhận được mỗi lần thanh toán từ chuyển giao quyền sử dụng, trước khi nộp thuế (khoản 1 Điều 135); nghĩa vụ tồn tại suốt thời hạn bảo hộ (khoản 4 Điều 135). Việc hợp đồng không quy định không làm mất nghĩa vụ trả thù lao mà chỉ dẫn đến áp dụng mức mặc định theo luật.
Thứ hai, về chuyển giao miễn phí cải tiến. Một số hợp đồng cấp quyền từ công ty mẹ sang pháp nhân Việt Nam có thể bao gồm điều khoản buộc bên được chuyển quyền phải chuyển giao miễn phí cho bên chuyển quyền các cải tiến do mình tạo ra, hoặc quyền đăng ký, quyền sở hữu công nghiệp đối với các cải tiến đó. Tuy nhiên, theo quy định, điều khoản này không được phép đưa vào hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp (điểm a khoản 2 Điều 144); trường hợp vẫn được ghi nhận trong hợp đồng thì mặc nhiên vô hiệu (khoản 3 Điều 144).
4. Thỏa thuận bảo mật có trần pháp lý
Công thức, thông số vận hành, dữ liệu khách hàng chỉ được bảo hộ như bí mật kinh doanh nếu đáp ứng đủ ba điều kiện tại Điều 84: không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; khi sử dụng trong kinh doanh tạo cho người nắm giữ lợi thế so với người không nắm giữ; và được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết. Vì vậy, một thông tin được thu thập từ nguồn công khai có thể không được xem là bí mật kinh doanh, dù doanh nghiệp đã áp dụng biện pháp kiểm soát truy cập hoặc bảo mật.
Quan trọng hơn, quyền bảo vệ bí mật kinh doanh cũng có giới hạn. Chủ sở hữu không có quyền ngăn cấm người khác bộc lộ, sử dụng thông tin được tạo ra một cách độc lập hoặc có được thông qua việc phân tích, đánh giá sản phẩm được phân phối hợp pháp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (các điểm d và đ khoản 3 Điều 125). Do đó, với giải pháp kỹ thuật có thể nhận biết từ sản phẩm đưa ra thị trưg, doanh nghiệp cần cân nhắc bảo hộ sáng chế; còn với quy trình vận hành không bị bộc lộ ra bên ngoài, duy trì bí mật kinh doanh có thể phù hợp hơn.
![]() |
Đối với nhiều doanh nghiệp FDI, sở hữu trí tuệ thường được xem là câu chuyện của giai đoạn bảo vệ quyền sau khi sản phẩm đã ra thị trường. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy phần lớn rủi ro lại xuất hiện sớm hơn, ngay từ thời điểm lựa chọn chủ thể nộp đơn, thiết kế hợp đồng, quản lý bí mật kinh doanh và xác định chiến lược xác lập quyền. Xử lý đúng bốn vấn đề này ngay khi triển khai dự án sẽ giúp doanh nghiệp tránh được những chi phí và tranh chấp có thể kéo dài nhiều năm sau đó.
Thông tin tư vấn
CÔNG TY CỔ PHẦN MONDAY VIETNAM
Website: mondayvietnam.com
Hotline: 086 200 6070















Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin