Thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm... Tiếp cận thông tin là việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp, tải về thông tin.
![]() |
| Luật gia Dương Văn Tín (đứng), Phó Chủ tịch Hội Luật gia thành phố Đồng Nai trao đổi với người dân xã Nha Bích về quyền tiếp cận thông tin tại buổi tuyên truyền. |
Tiếp cận thông tin (TCTT) là quyền của công dân. Chính vì vậy, Luật TCTT năm 2026 có hiệu lực kể từ ngày 1-9-2026 quy định: Các cơ quan, đơn vị phải có trách nhiệm cung cấp thông tin mà công dân được quyền tiếp cận.
Thông tin công dân được tiếp cận
Luật TCTT năm 2026 có 4 chương, 51 điều, quy định về việc thực hiện quyền TCTT của công dân; trách nhiệm của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu (sau đây gọi là cơ quan, đơn vị) trong việc bảo đảm quyền TCTT của công dân.
Theo đó, mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền TCTT. Người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi khi thực hiện quyền TCTT (khoản 1, Điều 3). Công dân có các quyền được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hành vi vi phạm pháp luật về TCTT (khoản 1, Điều 8). Công dân thực hiện TCTT bằng các phương thức sau: Tự do TCTT được cơ quan, đơn vị công khai; yêu cầu cơ quan, đơn vị cung cấp thông tin (Điều 9)…
Ông Dương Văn Hải (ở xã Nha Bích) thắc mắc: Trong trường hợp người yêu cầu cung cấp thông tin, người có nghĩa vụ cung cấp thông tin vi phạm các quy định của Luật TCTT năm 2026 thì sẽ bị chế tài ra sao?
Về vấn đề này, luật gia Dương Văn Tín, Phó Chủ tịch Hội Luật gia thành phố Đồng Nai giải đáp: Tại Điều 6 Luật TCTT năm 2026 có quy định, người nào có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về TCTT thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người cung cấp thông tin có hành vi vi phạm pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật. Người thực hiện quyền TCTT sử dụng thông tin được cung cấp gây ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc của người khác thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Do đó, người dân cần lưu ý trong việc sử dụng thông tin được cung cấp không được vi phạm các quy định của Luật TCTT năm 2026 và các luật có liên quan khác.
Điều 3 Luật TCTT năm 2026 quy định: Việc hạn chế quyền TCTT phải do luật định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Việc thực hiện quyền TCTT của công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc của người khác…
Thông tin không được tiếp cận, tiếp cận hạn chế
Nhu cầu TCTT hiện nay của người dân rất lớn và đa dạng. Tuy nhiên, không phải thông tin nào người dân yêu cầu cung cấp cũng được cơ quan, tổ chức đáp ứng. Bởi vì, thực tế có những thông tin liên quan tới bí mật quốc gia, đời tư, kinh doanh, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác… Theo quy định của Luật TCTT năm 2026, các thông tin này công dân không được tiếp cận, hoặc chỉ được tiếp cận có điều kiện, giới hạn.
Luật sư Chu Văn Hiển, Phó Trưởng ban Tuyên truyền, phổ biến và xây dựng pháp luật, Hội Luật gia thành phố Đồng Nai hướng dẫn: Tại Điều 15 Luật TCTT năm 2026 quy định các thông tin công dân không được tiếp cận như: Thông tin thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước; thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định của pháp luật dân sự và dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân; thông tin bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ; thông tin mà nếu cung cấp sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc người khác; thông tin thuộc bí mật công tác do cơ quan, đơn vị xác định theo quy định của pháp luật; thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan, đơn vị; tài liệu do cơ quan, đơn vị soạn thảo cho công việc nội bộ.
Thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện được Điều 16 Luật TCTT năm 2026 quy định cụ thể như sau: Thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân được tiếp cận trong trường hợp được người đó đồng ý. Thông tin liên quan đến bí mật gia đình được tiếp cận trong trường hợp được các thành viên gia đình đồng ý. Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh được tiếp cận trong trường hợp chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý. Việc tiếp cận có điều kiện đối với tài liệu lưu trữ tại lưu trữ lịch sử thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
Cũng theo luật sư Chu Văn Hiển, một quy định đáng chú ý nữa là tại khoản 4, Điều 16 Luật TCTT năm 2026 có quy định: Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, người đứng đầu cơ quan, đơn vị quyết định việc cung cấp thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, dữ liệu cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh trong trường hợp cần thiết vì lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng theo quy định của luật có liên quan mà không cần có sự đồng ý của người đó, các thành viên gia đình, chủ sở hữu bí mật kinh doanh.
Quy định này tạo cơ chế linh hoạt cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong cung cấp thông tin. Qua đó, vừa bảo đảm quyền TCTT của công dân vừa duy trì cơ chế bảo vệ quyền riêng tư, dữ liệu cá nhân, bí mật gia đình và bí mật kinh doanh, hướng tới sự cân bằng hợp lý giữa quyền của cá nhân, lợi ích của chủ thể kinh doanh và lợi ích chung của cộng đồng.
Ðoàn Phú

![[Infographic] Nguyên tắc quản lý, khai thác, sử dụng không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian tầm cao cụ thể ra sao?](/file/e7837c02876411cd0187645a2551379f/092026/a1_20260907083758.jpg?width=400&height=-&type=resize)







Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin