Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân:
Phát triển nhanh việc đào tạo nhân lực có kỹ năng

08:08, 22/08/2007

Phải đào tạo ra đội ngũ nhân lực có đủ phẩm chất và năng lực cạnh tranh trong môi trường toàn cầu - điều kiện mang tính tiên quyết giúp Việt Nam hội nhập nhanh với thế giới - là vấn đề mà Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh tại hội thảo "Giáo dục trong toàn cầu hóa: cơ hội, thách thức và ý nghĩa đối với Việt Nam và khu vực" vừa diễn ra tại Trung tâm đào tạo SEAMEO Việt Nam (TP. Hồ Chí Minh). Tại hội thảo này, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã dành cho phóng viên báo Đồng Nai cuộc phỏng vấn.

Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân

Phải đào tạo ra đội ngũ nhân lực có đủ phẩm chất và năng lực cạnh tranh trong môi trường toàn cầu - điều kiện mang tính tiên quyết giúp Việt Nam hội nhập nhanh với thế giới - là vấn đề mà Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh tại hội thảo "Giáo dục trong toàn cầu hóa: cơ hội, thách thức và ý nghĩa đối với Việt Nam và khu vực" vừa diễn ra tại Trung tâm đào tạo SEAMEO Việt Nam (TP. Hồ Chí Minh). Tại hội thảo này, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã dành cho phóng viên báo Đồng Nai cuộc phỏng vấn. Ông cho biết:

 

- Đào tạo nguồn nhân lực đang là một lợi thế cạnh tranh của Việt Nam  trong quá trình hội nhập", bởi Việt Nam  hiện có một hệ thống cơ sở đào tạo nhân lực gồm 599 trung tâm dạy nghề, gần 600 trường nghề và trung cấp chuyên nghiệp, có quy mô tuyển sinh hàng năm lên đến trên 1,5 triệu người; 320 trường cao đẳng (CĐ) và đại học (ĐH) với quy mô tuyển sinh hàng năm trên 330.000 người. Hiện tại, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đang đào tạo trên 300 ngành nghề, các cơ sở giáo dục ĐH đào tạo trên 200 ngành và hàng trăm chương trình đào tạo khác nhau. Quy mô đào tạo nghề nghiệp và ĐH tăng trên 10%/ năm. Thế nhưng, chất lượng GD-ĐT của Việt Nam  còn thấp; tính toàn diện về nghề nghiệp và sự chủ động trong học tập còn hạn chế; trình độ đào tạo nghề nghiệp ở các trình độ chưa đáp ứng được với nhu cầu phát triển; các ngành mới liên quan đến luật pháp quốc tế, quản lý doanh nghiệp, thương mại... đang thiếu hụt lớn; tỉ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, mới đạt dưới 30%, còn trên 70% thanh niên bước vào thị trường lao động mà chưa được đào tạo...

 

* Như vậy theo ông, hệ thống giáo dục của Việt Nam có đáp ứng được yêu cầu này chưa, thưa ông?

 

- Có thể thấy rất rõ, trong 5 năm trở lại đây nền kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng ổn dịnh với tốc độ bình quân 7,7% /năm, thu nhập quốc dân trên đầu người tăng từ khoảng 450 USD năm 2001 lên trên 720 USD năm 2006; tình hình an ninh, chính trị ổn định; hệ thống luật pháp đổi mới, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)... Tôi cho rằng, đây đã là những nhân tố quan trọng cải thiện môi trường đầu tư cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Một điều dễ nhận thấy là, Việt Nam có dân số trên 84 triệu người, trong đó khoảng 45 triệu người (53%) trong độ tuổi lao động, mà phần lớn là lao động trẻ tuổi dưới 35. Việt Nam cũng có hệ thống giáo dục hình thành đồng bộ với các cấp học từ mẫu giáo, tiểu học, THCS, THPT đến đại học với khoảng 24 triệu người học và trên 1 triệu thầy cô giáo. Mạng lưới các trường phủ kín tất cả các địa phương trong cả nước góp phần cải thiện đáng kể cơ hội tiếp cận đến giáo dục của người dân sống ở những vùng khó khăn. Đến nay, đã có 34/64 tỉnh, thành hoàn thành phổ cập THCS. Dự kiến đến năm 2020, hầu hết các tỉnh, thành phố hoàn thành phổ cập THCS và nhiều tỉnh, thành khác hoàn thành phổ cập THPT trước năm 2012. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, có 67 trường THPT năng khiếu, đang đào tạo khoảng 70.000 học sinh giỏi của 64 tỉnh, thành trong cả nước, chiếm 8% tổng số học sinh THPT. Đây chính là nơi nuôi dưỡng các tài năng về Toán học, Vật lý, Văn học... Nhờ đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình và sách giáo khoa, phương pháp dạy học trong giáo dục phổ thông và cơ sở trường lớp được nâng cấp, chất lượng giáo dục phổ thông được cải thiện nên đã tạo điều kiện tốt cho giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

Hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực gồm 599 trung tâm dạy nghề, gần 600 trường dạy nghề và trung cấp chuyên nghiệp, 320 trường cao đẳng và đại học với quy mô tuyển sinh hàng năm của các trung tâm dạy nghề, trường dạy nghề và trung cấp chuyên nghiệp lên đến trên 1,5 triệu học viên, đối với các trường cao đẳng và đại học là trên 330.000 sinh viên và sau đại học là trên 15.000 học viên. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học (gồm cao đẳng và đại học) đã cung cấp lao động cho hầu hết các lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế, xã hội. Hiện tại, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cung cấp khoảng trên 300 ngành nghề đào tạo, trong khi các cơ sở giáo dục ĐH cung cấp trên 200 ngành đào tạo và hàng trăm chương trình đào tạo khác nhau. Quy mô đào tạo trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học tăng trên 10%/ năm.

Tuy nhiên, phải nhìn cho rõ một thực tế, đó là tỉ lệ người lao động được đào tạo nghề nghiệp từ trình độ sơ cấp đến ĐH ở độ tuổi thanh niên còn thấp - dưới 30% (mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 là 40%).  Chính vì thế, từ năm học 2006-2007, Bộ GD-ĐT đã triển khai kế hoạch xây dựng các ngành đào tạo và trường đại học đạt trình độ quốc tế. Theo đó, 9 trường đại học đầu tiên đã được lựa chọn để liên kết với các đại học có uy tín của Mỹ để đào tạo cử nhân theo chương trình và công nghệ đào tạo của các trường đại học đối tác này.

 

* Ông vừa đề cập đến việc đổi mới phương thức đào tạo hướng tới chuẩn quốc tế, cụ thể Bộ GD-ĐT sẽ tập trung vào lĩnh vực nào, thưa ông?

 

- Bộ xác định những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong thời gian tới là: triển khai chương trình 10 năm (2008-2018) nâng cao chất lượng đào tạo và khả năng sử dụng tiếng Anh của người Việt Nam; triển khai đào tạo theo đặt hàng; Nhà nước cho vay ưu đãi, trả chậm để các cơ sở đào tạo nâng cấp trang thiết bị, phục vụ đào tạo, cho người học vay tiền để học; liên kết với các ĐH nước ngoài để phát triển các ngành đào tạo có trình độ quốc tế; nâng cao học phí các trường (trước mắt là 300-500 USD/năm); phát triển các chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên nghèo, khuyến khích sinh viên giỏi.

Bắt đầu từ năm học 2006-2007, Bộ GD-ĐT đã triển khai kế hoạch xây dựng các ngành đào tạo và trường đại học đạt trình độ quốc tế. Theo đó, 9 trường đại học đầu tiên đã được lựa chon để liên kết với các đại học có uy tín của Mỹ để đào tạo cử nhân theo chương trình và công nghệ đào tạo của các trường đại học đối tác này. Giảng viên của các chương trình ở Việt Nam là các giảng viên đã nhận bằng tiến sĩ, thạc sĩ ở các nước nói tiếng Anh, các giáo sư người Việt Nam đang giảng dạy ở các đại học nước ngoài và các giảng viên của các đại học đối tác nước ngoài được mời giảng dạy. Các giảng viên Việt Nam được gửi qua trường đối tác để nghiên cứu mô hình, phương pháp giảng dạy, quản lý đào tạo, dự giờ giảng của các giáo sư thuộc trường đối tác. Ngôn ngữ giảng dạy bằng tiếng Anh, giáo trình được sử dụng là những giáo trình đang được sử dụng ở trường đối tác. Thời gian đào tạo từ 4,5 - 5 năm, trong đó có nửa năm bồi dưỡng ngoại ngữ.

Đơn cử ngay tại Trường ĐH bách khoa TP. Hồ Chí Minh, ngay từ học kỳ I năm học 2006-2007, sinh viên sẽ học 6 môn bằng tiếng Anh. Các trường tham gia chương trình trên được Bộ GD-ĐT tài trợ từ 1 - 5 triệu USD để nâng cấp các cơ sở thí nghiệm, thực hành đáp ứng chương trình đào tạo của các đối tác nước ngoài. Tuy mới triển khai năm đầu, nhưng với chất lượng của sinh viên được tuyển chọn, sự tin cậy vào chất lượng đào tạo của các đại học đối tác và sự chuẩn bị tích cực của các ĐH Việt Nam, nhiều công ty như Intel, Remasas, TMA và một số công ty ở Silicon Valley đã đề nghị được nhận toàn bộ sinh viên ở các chương trình liên quan vào làm việc sau khi tốt nghiệp. Trong giai đoạn 2008-2010, sẽ có 9 trường ĐH nữa được tuyển chọn tham gia chương trình này. Giai đoạn 2011-2020, các trường ĐH Việt Nam sẽ mở rộng việc đào tạo theo chương trình tiên tiến của các ĐH đối tác nước ngoài sang nhiều ngành khác trong mỗi trường; triển khai đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ tương đương với yêu cầu chất lượng của các trường đối tác.

Bên cạnh sự đầu tư 20% ngân sách nhà nước hàng năm cho GD-ĐT, sự tham gia của xã hội và các nhà đầu tư nước ngoài vào giáo dục ngày một tăng. Hiện nay, 29% số học sinh THPT học tại 600 trường THPT ngoài công lập, 22% tổng số học sinh trung cấp chuyên nghiệp đang học tại 56 trường trung cấp chuyên nghiệp ngoài công lập và 45 trường ĐH, CĐ ngoài công lập đang đào tạo 12% tổng số sinh viên ĐH, CĐ cả nước. Hiện Việt Nam có trường đại học RMIT Việt Nam đã hoạt động có hiệu quả từ 5 năm nay tại TP. Hồ Chí Minh  và Hà Nội.

Việc đào tạo ra đội ngũ nhân lực có đủ phẩm chất và năng lực cạnh tranh trong môi trường toàn cầu là điều kiện mang tính tiên quyết giúp Việt Nam hội nhập nhanh chóng với thế giới. Việt Nam có thế mạnh của dân số trong độ tuổi lao động khá trẻ được trang bị nền tảng học vấn phổ thông tương đối tốt và công lao động rẻ. Tuy nhiên, lợi thế về lao động rẻ sẽ bị mất đi theo sự phát triển kinh tế đất nước và mức sống người dân nâng cao. GD-ĐT đang đối diện với những thách thức rất lớn.      

 

* Xin cảm ơn ông!

 

Thu Trang (thực hiên)

Tin xem nhiều