Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Môi trường ở Đồng Nai: Còn bộn bề lo toan

09:12, 07/12/2005

Với một tỉnh công nghiệp, dịch vụ phát triển như Đồng Nai, việc quản lý môi trường đã trở thành chương trình hành động được các cấp, các ngành và người dân rất quan tâm. Tuy nhiên, môi trường ở Đồng Nai đến nay vẫn còn nhiều nỗi bộn bề phải lo toan...

Nuôi cá bè trên sông Đồng Nai không được quy hoạch - một hoạt động gây ô nhiễm môi trường nước sông.
Với một tỉnh công nghiệp, dịch vụ phát triển như Đồng Nai, việc quản lý môi trường đã trở thành chương trình hành động được các cấp, các ngành và người dân rất quan tâm.  Tuy nhiên, môi trường ở Đồng Nai đến nay vẫn còn nhiều nỗi bộn bề phải lo toan...

 

* Tài nguyên nước là mục tiêu hàng đầu cần quan tâm

 

Cùng với hồ Trị An, Đồng Nai là tỉnh có nhiều sông lớn nhỏ, lưu lượng nước dồi dào, cung cấp nước ngọt cho hơn 14 triệu người dân vùng hạ lưu của Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Để bảo vệ nguồn tài nguyên này, trong những năm qua, UBND tỉnh và các  ngành chức năng của Đồng Nai đã có nhiều chương trình hành động, trong đó đã hình thành được một mạng lưới quan trắc chất lượng nước mặt tại sông Cái, sông Đồng Môn và sông Thị Vải; quan trắc chất lượng nước ngầm sông Đồng Nai, Thị Vải và quan trắc thủy sinh hồ Trị An. Đặc biệt, sông Đồng Nai đã thực hiện theo quy chế quản lý vùng miền (lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn) liên quan đến 11 tỉnh, thành. Bên cạnh đó, Đồng Nai cũng đã xúc tiến triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải ở các bệnh viện; tiến hành xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung cho các phường nội ô Biên Hòa; triển khai các dự án cải tạo các suối Bà Bột, Tân Mai, Suối Linh để thoát nước trong hệ thống đô thị Biên Hòa...

Không chỉ vậy, thời gian qua, việc đầu tư phát triển nguồn nước sạch cũng đã được mở rộng đến nhiều xã vùng sâu, vùng xa. Riêng 5 năm qua (2001-2005), tổng số công trình cấp nước sinh hoạt đã được xây dựng lên đến 4.892 công trình, trong đó có 13 công trình cấp nước tập trung quy mô lớn, 21 bể lọc và hàng ngàn giếng đào, giếng khoan. Cuối năm nay, tỷ lệ nước dùng hợp vệ sinh trong dân đã đạt 120-150 lít/người/ngày và có đến 80% người dân trên địa bàn tỉnh đều được sử dụng nước sạch.

Những hoạt động quản lý và bảo vệ tài nguyên nước tuy đã được quan tâm nhiều, nhưng nhìn chung vẫn chưa khắc phục được tình trạng ô nhiễm, nhất là nước thải công nghiệp. Là một tỉnh có tới 17 KCN tập trung hoạt động, với lượng nước thải lên đến 60.000 m3/ngày đêm, nhưng đến nay cũng chỉ mới có 3 KCN có nhà máy xử lý nước thải tập trung, lượng nước xử lý đạt chỉ chiếm chưa tới 1/3 tổng lưu lượng thải. Số nước thải ra cùng với nhiều nguồn thải khác nữa đổ ra sông Đồng Nai khiến con sông  này và một số sông suối khác bị ô nhiễm cục bộ ở nhiều đoạn. Riêng sông Thị Vải mỗi ngày đêm phải "tiếp nhận" đến 31.816m3 nước thải  từ các nguồn thải công nghiệp, dịch vụ. Hiện sông Thị Vải đang là điểm báo động đỏ về tình trạng nước sông bị ô nhiễm.

Còn ở hồ Trị An, nguồn nước sinh hoạt chính cho người dân Biên Hòa và TP. Hồ Chí Minh cũng đang bị ô nhiễm cục bộ bởi tình trạng người dân ngăn đắp ao hồ giữ nước nuôi thủy hải sản; sử dụng phân gia súc, gia cầm làm thức ăn cho cá tôm nuôi trong hồ và hàng năm có đến 150.000 tấn cây ma vương mọc và phân hủy tại hồ, khiến cho lưu lượng nước bị giảm sút và chất lượng nước bị đe dọa do ô nhiễm (dù việc này đã và đang được UBND tỉnh xử lý). Ngoài ra, việc khai thác bừa bãi nguồn nước ngầm do tư nhân khoan đào giếng để lấy nước sinh hoạt và sử dụng trong nông nghiệp nhưng chống thấm không đạt tiêu chuẩn, dẫn đến không chỉ sút giảm về lượng mà còn làm ô nhiễm luôn cả nguồn nước ngầm.

 

*  Xử lý chất thải rắn - bài toán còn nan giải

 

Nếu chỉ tính riêng trên địa bàn TP. Biên Hòa, mỗi ngày có khoảng 500 tấn rác sinh hoạt thải ra môi trường, trong khi lượng rác thu gom được chỉ chiếm 65% (khoảng 350 tấn/ngày), còn lại 150 tấn rác vẫn đang tồn tại trên các đường phố hoặc bị vứt  xuống các dòng sông, suối, cống rãnh. Việc thu gom rác vốn đã khó khăn, vấn đề chôn lấp rác thải sinh hoạt hợp vệ sinh lại càng khó khăn hơn nữa vì quỹ đất hạn chế, không đủ kinh phí để đầu tư những bãi chôn lấp đạt tiêu chuẩn.

Từ năm 2000, UBND tỉnh đã phê duyệt đề án quy hoạch bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 với 11 bãi rác tập trung (sau đó bổ sung thêm 2 bãi nữa). Thế nhưng cho đến nay, việc xây dựng những bãi chôn lấp này vẫn gặp nhiều khó khăn nên chưa được xây dựng. Riêng bãi rác Trảng Dài dùng cho chôn lấp rác thải sinh hoạt và công nghiệp không nguy hại ở TP. Biên Hòa hiện cũng chỉ mới được đầu tư cải tạo. Theo đề xuất của Sở Tài nguyên - môi trường, việc xây dựng những bãi rác nên theo hướng liên huyện, liên đô thị, đồng thời phải gắn liền với  quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.

Mặt khác, công tác  quản lý, thu gom và xử lý rác thải công nghiệp nguy hại cũng đang gặp rất nhiều khó khăn. Tỷ lệ đăng ký quản lý chất thải nguy hại (CTNH) trong các doanh nghiệp (DN) đến nay tuy đã tăng từ 30 DN (năm 2001) lên 120 DN (năm 2005) nhưng đây là con số rất thấp (chỉ chiếm khoảng 10% tổng số DN đang hoạt động trên địa bàn), nên lượng CTNH được thu gom và xử lý vẫn chưa được bao nhiêu. Tình trạng chủ nguồn thải muốn giảm chi phí xử lý CTNH nên đã cho đổ chung CTNH vào rác thải công nghiệp không nguy hại vẫn còn xảy ra. Mặt khác, hiện nay danh mục về các CTNH chưa rõ ràng,  giới hạn nguy hại của từng CTNH vẫn đang chờ hướng dẫn ... dẫn đến tình trạng khó xác định được chất thải nào nguy hại, chất thải nào không để thu gom, xử lý.

Đối với  chất thải y tế (CTYT), tính đến nay tỉnh đã đầu tư và trang bị 4 lò đốt CTYT. Trong đó có một lò đốt công suất 800 kg/giờ đặt tại Bệnh viện lao và bệnh phổi phục vụ xử lý CTYT cho khoảng 13 đơn vị y tế ở Biên Hòa và các vùng phụ cận (khoảng 12 tấn/ tháng) và 3 lò khác có công suất nhỏ hơn (30kg/giờ) được đặt tại các bệnh viện đa khoa khu vực Long Thành, Xuân Lộc và Tân Phú cũng đã tiêu hủy đạt tiêu chuẩn các chất thải y tế độc hại, nhưng việc thu gom lượng chất thải y tế thải ra vẫn chưa thật đầy đủ.

***

Thời gian qua, UBND tỉnh và các ngành chức năng cũng đã quan tâm  phân công, phân cấp cho cơ quan đơn vị chuyên môn trong quản lý nhà nước về BVMT và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật tổ chức tập huấn cho các DN, các cán bộ làm công tác quản lý TN-MT ở các huyện, thị xã và thành phố nhằm nâng cao nhận thức, năng lực về BVMT cho người quản lý cũng như người dân và tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, do lực lượng quản lý về môi trường còn mỏng, hạn chế về trang thiết bị, phương tiện, việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý môi trường với cơ quan cấp giấy phép  đầu tư, giấy phép kinh doanh còn thiếu đồng bộ, chưa lồng ghép tốt các vấn đề BVMT trong các dự án đầu tư, các dự án quy hoạch phát triển vùng... nên công tác BVMT vẫn còn bề bộn công  việc phải làm.

Đứng trước thực trạng ô nhiễm trên địa bàn, thiết nghĩ cần phải đầu tư nhiều hơn nữa cho công tác bảo vệ môi trường. Trước hết trong quy hoạch kinh tế nên gắn liền với quy hoạch về môi trường và tăng cường năng lực (con người, phương tiện, kinh phí) cho công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành luật pháp về tài nguyên, môi trường; xử lý nghiêm và kịp thời các trường hợp cố tình vi phạm.

 Phương Liễu

 

Tin xem nhiều