Ở Ðồng Nai, chuyển đổi số đang được thúc đẩy theo hướng xử lý điểm nghẽn và đo bằng sản phẩm thực chất, tổ chức Ðảng ở cơ sở có điều kiện để chứng minh vai trò bằng kết quả cụ thể. Một chi bộ mạnh trong kỷ nguyên số không phải là chi bộ nói nhiều nhất về công nghệ, mà là chi bộ biết “biến” chủ trương thành việc làm, đảng viên thành hạt nhân và “biến” đổi mới thành năng lực chung của tập thể.
Bài 1: Từ nỗi sợ công nghệ đến làm chủ công nghệ
Chuyển đổi số (CÐS) không bắt đầu từ những khái niệm lớn. Với nhiều người lao động Ðồng Nai, CÐS bắt đầu từ một nút bấm, một phần mềm mới, một câu lệnh cho trí tuệ nhân tạo (AI) và đôi khi từ chính nỗi lo mình có theo kịp thời đại hay không. Nhưng cũng từ những bỡ ngỡ ban đầu ấy, một chuyển động đáng chú ý đang diễn ra: người lao động từ chỗ e ngại công nghệ đang học cách sử dụng, thích ứng và từng bước làm chủ công nghệ.
![]() |
| Tham gia học tập Bình dân học vụ số góp phần quan trọng trong chuyển đổi số. Trong ảnh: Lớp tập huấn Bình dân học vụ số được tổ chức tại xã Lộc Thạnh, ngày 12-9-2026. |
Học nghề lần thứ 2
Chị Bùi Thị Ngọc làm công việc đóng gói sản phẩm tại một công ty sản xuất thiết bị văn phòng phẩm trên địa bàn thành phố với thâm niên 23 năm. Ngày trước, chị đóng gói sản phẩm bằng tay, còn nay chị vận hành máy. Sự thay đổi nghe có vẻ đơn giản, nhưng với người đã quen một công việc trong hơn 2 thập niên, đó gần như là một lần học nghề mới.
Khó khăn đầu tiên của chị Ngọc không phải một khái niệm xa vời về CĐS, mà là nhớ các nút vận hành, hiểu từng công đoạn của máy và phát hiện lỗi để xử lý. Người hướng dẫn chị là tổ trưởng và những đồng nghiệp có kinh nghiệm. Từ chỗ bỡ ngỡ, chị dần quen máy, công việc nhanh hơn, hiệu quả hơn và an toàn hơn.
Theo chị Ngọc, trước đây chị làm thủ công trong 1 giờ đạt hơn 150 sản phẩm; khi chuyển sang vận hành máy, một người trong 1 giờ có thể đạt hơn 1 ngàn sản phẩm. Đằng sau chênh lệch năng suất ấy không chỉ là sức mạnh của máy móc, mà đó còn là kết quả của việc người lao động thay đổi kỹ năng và phương thức làm việc.
Điều đáng chú ý hơn nằm ở tâm lý. Nếu ngày mai doanh nghiệp đưa vào công nghệ mới, chị Ngọc cho biết mình không còn sợ tiếp cận như lần đầu. Đây là một chuyển biến quan trọng. Trong CĐS, vượt qua tâm lý sợ công nghệ có thể là “cửa ải” đầu tiên. Một khi đã trải nghiệm việc học và làm chủ công cụ mới, người lao động hình thành sự tự tin để tiếp tục học.
Câu chuyện ấy không chỉ có ở dây chuyền sản xuất. Tại Trường đại học Lạc Hồng (phường Trấn Biên), chuyên viên Nguyễn Võ Sơn sử dụng công nghệ và AI để tìm kiếm thông tin, soạn thảo nội dung, thiết kế, chỉnh sửa hình ảnh và tổng hợp dữ liệu. Anh Sơn chia sẻ: AI có thể giúp làm nhanh nhưng kết quả vẫn phải được con người kiểm tra. Công nghệ không xóa vai trò con người; nó làm thay đổi vai trò ấy từ thao tác thuần túy sang kiểm soát, đánh giá và ra quyết định.
Ở Khách sạn Đồng Nai, anh Lê Đức Tài, một đảng viên có 13 năm công tác, chủ động sử dụng ChatGPT và Gemini để hỗ trợ giao tiếp với khách nước ngoài. Sau khi thấy hiệu quả, anh hướng dẫn đồng nghiệp cùng dùng. Một bài toán rất nhỏ ở quầy lễ tân lại cho thấy bản chất thực tế của CĐS: công cụ chỉ có ý nghĩa khi giải quyết được vấn đề thật và được người lao động đưa vào quy trình công việc.
Tại Công ty cổ phần Môi trường Sonadezi, chị Đặng Thị Kiều Hạnh sử dụng AI để hỗ trợ tra cứu thông tư, nghị định liên quan thuế và kế toán. Điều chị quan tâm là độ chính xác của thông tin và cách đặt câu lệnh để AI hiểu đúng. Trong khi đó, chị Nguyễn Ngọc Quỳnh Như sử dụng phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử, Excel và AI để giảm thao tác thủ công, kiểm tra và tổng hợp số liệu. Thời gian xử lý công việc của chị Quỳnh Như giảm khoảng 30-40%.
Những trường hợp ấy cho thấy, CĐS không nằm ở một phòng công nghệ thông tin mà hiện diện ở dây chuyền, quầy lễ tân, bàn kế toán, phòng đào tạo và cả cách người lao động tìm kiếm tri thức. Vì thế, CĐS trước hết là chuyển đổi cách làm việc.
Từ Nghị quyết số 57 đến “Bình dân học vụ số”
Những thay đổi ở cơ sở đang diễn ra trong một định hướng lớn của Đảng. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị xác định: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và CĐS là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới phương thức quản trị và thúc đẩy phát triển đất nước. Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu đó theo hướng rõ nhiệm vụ, rõ trách nhiệm và rõ kết quả.
![]() |
| Giáo viên các trường học trên địa bàn thành phố tham gia một lớp tập huấn về ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Ảnh: Hải Yến |
Ở Đồng Nai, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và CĐS được xác định là một trong 3 chương trình đột phá của nhiệm kỳ 2025-2030. Thành phố triển khai Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về CĐS, tập trung vào 10 nhóm nhiệm vụ từ thể chế, hạ tầng, dữ liệu, nền tảng số đến kinh tế số, xã hội số, nguồn nhân lực và kỷ luật thực thi.
Đặc biệt, Kế hoạch số 216/KH-UBND, ngày 28-4-2026 triển khai phong trào Bình dân học vụ số trên địa bàn Đồng Nai đặt mục tiêu phổ cập kiến thức, kỹ năng số thiết yếu cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp theo phương châm “không ai bị bỏ lại phía sau”. Tư tưởng ấy gặp đúng câu chuyện của chị Ngọc và nhiều người lao động: CĐS chỉ có ý nghĩa khi người bình thường có thể sử dụng được công nghệ trong công việc và cuộc sống.
Để người lao động thực sự làm chủ công nghệ
Từ những câu chuyện thực tế, có thể rút ra 3 việc cần làm. Một là doanh nghiệp cần lập bản đồ kỹ năng số theo vị trí việc làm, xác định ai đang thiếu kỹ năng gì. Hai là đào tạo phải gắn với một bài toán thật và đo được thay đổi trước - sau. Ba là phải hình thành cơ chế người biết hướng dẫn người chưa biết, để tri thức số lan truyền ngay trong tổ, đội, phòng, ban.
Một yêu cầu nữa là phải nhìn kỹ năng số như một phần của năng lực nghề nghiệp, chứ không phải kỹ năng phụ. Khi công nghệ thay đổi nhanh, người lao động không thể chỉ học một lần rồi sử dụng mãi. Doanh nghiệp cần tạo điều kiện cho học tập thường xuyên ngay trong giờ làm việc, xây dựng tài liệu ngắn, dễ dùng và tổ chức các nhóm hỗ trợ tại chỗ. Phong trào Bình dân học vụ số nếu được đưa vào doanh nghiệp theo cách này sẽ không dừng ở phổ cập kiến thức, mà trở thành quá trình nâng cấp năng lực sản xuất và chất lượng nguồn nhân lực.
Cũng cần thay đổi cách đánh giá hiệu quả đầu tư công nghệ. Nếu chỉ tính số máy móc, phần mềm hay tài khoản được trang bị, doanh nghiệp dễ bỏ qua yếu tố quan trọng nhất là mức độ người lao động thực sự sử dụng. Một công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi người dùng hiểu nó, tin vào nó và biết kết hợp với kinh nghiệm nghề nghiệp của mình. Vì thế, cùng với chỉ tiêu năng suất, cần theo dõi tỷ lệ sử dụng, mức giảm sai sót, mức độ tự tin của người lao động và số sáng kiến phát sinh từ chính người sử dụng.
Nhưng ai sẽ là người đi trước? Trong một tổ chức có Đảng, câu hỏi ấy không chỉ thuộc về bộ phận công nghệ hay lãnh đạo doanh nghiệp. Người đảng viên, với trách nhiệm nêu gương và tiên phong, cần trở thành người dám học trước, thử trước, làm trước và hỗ trợ đồng nghiệp cùng tiến. Từ người lao động làm chủ công nghệ, câu chuyện vì thế chuyển sang một chủ thể quan trọng hơn: vai trò của đảng viên trong dẫn dắt thay đổi số ở cơ sở.
Trần Đăng Ninh
Bài 2: Ðảng viên đi trước, người lao động cùng tiến















Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin