
Từ ngã ba Đôn Chương (huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng) rẽ phải chừng mươi cây số, núi rừng Pác Bó hiện ra đẹp đến sững sờ. 70 năm đã trôi qua, trong lòng người dân Pác Bó và cả nước, "bóng dáng Người còn in trên đèo" (lời ca khúc Tiếng hát giữa rừng Pác Bó của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ)...
Từ ngã ba Đôn Chương (huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng) rẽ phải chừng mươi cây số, núi rừng Pác Bó hiện ra đẹp đến sững sờ. 70 năm đã trôi qua, trong lòng người dân Pác Bó và cả nước, "bóng dáng Người còn in trên đèo" (lời ca khúc Tiếng hát giữa rừng Pác Bó của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ)...
* Người đi, rừng núi in theo bóng Người
Đường từ cột mốc 108 biên giới Việt - Trung đi xuống Pác Bó còn khó hơn cả lúc lên bởi những phiến đá hẹp trơn trợt. Xuống được khoảng hơn nửa đoạn đường, quẹo phải theo một con đường mòn nhỏ là đến hang Lũng Lạn. Hướng dẫn viên Đàm Thị Trang, người dân tộc Tày ở địa phương, cho biết trong thời gian hoạt động ở đây, ngoài nơi ở chính là hang Cốc Bó, Bác còn di chuyển tạm sang một số hang khác mỗi khi địch lùng sục gắt gao, và Lũng Lạn là một trong những nơi Bác Hồ ở, làm việc tạm thời, mỗi lần chỉ chừng 3 tuần. Hang khá nhỏ và thấp, nằm khuất sau những bụi cây um tùm nên kín đáo, nhưng cũng vì thế mà nền hang rất ẩm ướt.
"Ở Lũng Lạn không có giường chiếu gì cả, Bác chỉ rải lá trên nền hang rồi nằm ngủ. Mùa đông Pác Bó lạnh buốt, có lúc xuống đến 2-30C, Bác cũng chỉ đắp có tấm chăn sui sơ sài. Chăn sui là loại chăn làm bằng vỏ cây sui, đồng bào Tày thường lấy vỏ cây sui đập mềm ra, bện thành tấm đắp. Chăn sui cứng, không ấm bằng chăn vải, lại ngứa và có mùi hăng, chỉ có người nghèo mới dùng. Bác là lãnh tụ của cả nước, thế mà vẫn sống như người nghèo", giọng cô Trang nghẹn lại.
Pác Bó cũng còn một số hang động Bác dùng để ở, hoạt động hoặc cất giấu tài liệu, như: Ngườm Vài - nơi Bác Hồ dự lễ kết nạp nữ đồng chí Nông Thị Trưng (là liên lạc viên cách mạng thời kỳ đó, sau Cách mạng tháng Tám là Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng), Slí Điếng, Diêm Tiêu... Nơi nào trong số các hang động này cũng như in dấu chân Bác: sống trong điều kiện khó khăn để gầy dựng phong trào cách mạng.
| Ông Đào Văn Mùi, Phó giám đốc Khu du lịch Pác Bó tự hào cho biết, không chỉ du khách trong nước mà ngay cả người dân Trung Quốc ở khu vực biên giới cũng tôn sùng, ngưỡng mộ Bác Hồ như một vị thần. Những ngày lễ, tết, nhất là vào dịp sinh nhật Bác 19-5, hàng ngàn người dân Trung Quốc ở các xã biên giới thuộc huyện Tĩnh Tây (tỉnh Quảng Tây) đã nườm nượp mang trái cây, nhang đèn, lễ vật sang Pác Bó viếng Bác Hồ đông như trẩy hội. |
Nhưng mang đậm dấu ấn của Bác trong thời kỳ hoạt động tại đây vẫn là hang Cốc Bó. Theo lời kể của đồng chí Lê Quảng Ba, Đội trưởng Đội Bảo vệ trực tiếp đón Bác Hồ từ Quảng Châu về nước, sau khi rời cột mốc 108 đoàn đến thẳng nhà của ông Lý Quốc Súng, nằm lưng chừng một ngọn núi đá khác cạnh dãy núi Phia Sum Khảo. Ông Lý Quốc Súng là người dân tộc Tày gốc Hoa, rất có cảm tình với cách mạng và thường nuôi giấu cán bộ hoạt động. Dù không biết Bác là lãnh tụ cao cấp của cách mạng, nhưng nghe giới thiệu có "cán bộ dưới xuôi" lên công tác, ông Súng rất vui, giục vợ con làm cỗ ngày tết để đãi khách. Nhà ông Súng có 2 gian, rộng chỉ hơn 20m2, gia đình ông cất thêm gian nữa cho đoàn cán bộ ở. Cả nhà chỉ có một tấm phản gỗ duy nhất nhưng ông vẫn thiết tha nhường cho Bác nằm nghỉ. Không muốn làm phiền dân, Bác đề nghị mọi người trong đoàn kiếm hang đá nào đó để ở, sinh hoạt và làm việc - một tính cách luôn vì dân, trọng dân, lấy dân làm gốc của Bác. Sau khi khảo sát, chọn lựa địa điểm, 10 ngày sau Bác rời nhà ông Lý Quốc Súng, chuyển sang hang Cốc Bó ở trên núi cao hơn, cách nhà ông Súng chừng mấy trăm mét...
* Từ Khuổi Nặm đến Ba Đình
Cốc Bó là hang núi đá vôi tự nhiên, rộng khoảng 15m2, nguyên là nơi gia đình ông Súng dùng làm kho cất thóc lúa và nông cụ. Cô gái hướng dẫn viên Đàm Thị Trang cho biết, trước kia phía trên miệng hang Cốc Bó có một mái vòm đá tự nhiên rất đẹp. Năm 1980, khi xảy ra xung đột biên giới làm mất vòm hang này. Gia đình ông Lý Quốc Súng lúc đó phải dời nhà đi nơi khác. Một thời gian sau ông Súng mất, người con gái duy nhất của ông là Máy Lỳ cũng rời quê đi đâu không rõ. Ở di tích Pác Bó hiện nay chỉ còn dấu vết nền nhà của ông Súng năm xưa.
Ở hang Cốc Bó, điều kiện sống rất khó khăn so với nhà ông Súng. Hang tối, ẩm thấp ngột ngạt dù đã được lấy khí trời từ một miệng thông gió khác. Nước sinh hoạt phải xách từ suối ở tận chân núi lên. Bác đã dùng một tấm ván gỗ, kê chân bằng những phiến đá xếp chồng lên nhau để làm chỗ nằm nghỉ lẫn làm việc vào ban đêm, phía trên giường ngủ Bác tự tay viết vào vách đá hàng chữ "Bát nhật, nghị nguyệt, thập cửu tứ thập nhất niên" (ngày 8, tháng 1, năm 1941) - ngày Bác chuyển đến sống ở hang.
Thời điểm đó, đồng bào ở Pác Bó rất thiếu thốn lương thực, một năm chỉ được mấy tháng no, còn lại quanh năm phải ăn độn khoai sắn, mùa giáp hạt thì ăn bất cứ thứ rau củ quả nào tìm được để cầm hơi. Bác cũng thế, thường xuyên phải ăn cháo, ăn độn khoai củ như đồng bào. Hoàn cảnh thiếu thốn gian khổ, nhưng tâm trạng Bác rất ung dung thoải mái vì đã được sống trên quê hương, trong vòng tay yêu quý, đùm bọc của đồng bào. Bác đã đặt tên cho một ngọn núi đá hùng vĩ là núi Các Mác, phiến thạch nhũ trong lòng hang Cốc Bó có hình dạng giống Các Mác cũng được Bác đặt tên tương tự. Con suối Giàng trong xanh ngăn ngắt có nguồn từ lòng núi Các Mác chảy xuống chân núi được đổi tên thành suối Lê Nin. Suối Lê Nin có rất nhiều cá, và những lúc rảnh rỗi Bác thường ra bờ suối câu cá, vừa thư giãn vừa cải thiện bữa ăn. Bên bờ suối Lê Nin có mấy tảng đá chồng lên nhau, mặt bằng phẳng như chiếc bàn, Bác đã đặt thêm một tảng đá khác làm ghế. Và tại chiếc "bàn đá chông chênh" này, Bác đã dịch "Lịch sử Đảng Cộng sản Xô-viết" từ tiếng Nga sang tiếng Việt để làm tài liệu nghiên cứu. Không chỉ thế, tại Pác Bó, Bác đã tổ chức nhiều lớp huấn luyện, đào tạo đội ngũ cán bộ, những lớp cán bộ nguồn quý giá cho cách mạng Việt
Đặc biệt, Pác Bó còn một di tích rất quan trọng đối với lịch sử cách mạng Việt Nam, đó là lán Khuổi Nặm. Khuổi Nặm, theo tiếng Tày, có nghĩa là suối nước. Quả thật, bên cạnh lán là một dòng suối nhỏ róc rách suốt đêm ngày rất vui tai. Từ chân núi Các Mác sang lán Khuổi Nặm khoảng 800m, men theo chân một ngọn núi nhỏ khác. Dọc theo đường đi là những thửa ruộng bậc thang đặc trưng của đồng bào miền núi phía Bắc đẹp như tranh vẽ. Để ngăn trâu bò, đồng bào Tày còn lấy đá xếp thành một bức tường đá dài thật công phu và đẹp, khiến chúng tôi có cảm giác như đang đi trên một Vạn lý trường thành nho nhỏ. Xa xa, tiếng mõ trâu lốc cốc vọng lại thật thanh bình. Lán Khuổi Nặm rất đơn sơ, rộng khoảng 12m2, mái lợp tranh, vách và sàn dựng bằng nứa theo kiểu nhà của đồng bào Tày. Nhưng chính tại nơi này, từ ngày 10 đến 19-5-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII. Đây là hội nghị có ý nghĩa lịch sử: hoàn chỉnh việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược cách mạng đã đề ra ở Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VII (vào tháng 11-1939), xác định đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này là giải phóng dân tộc, giành lại độc lập. Hội nghị cũng quyết định thành lập tổ chức "Việt Nam độc lập Đồng Minh Hội", và tên gọi Việt Minh ra đời từ đó. Hội nghị cũng quyết định gấp rút chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới khởi nghĩa vũ trang. Sự chuyển hướng chiến lược này là tiền đề dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945. Chỉ 4 năm sau, Khuổi Nặm đã nối liền với Hà Nội trong tự do, độc lập. Những kỳ hội nghị trang trọng của Ban chấp hành trung ương Đảng tại thủ đô Hà Nội hôm nay đã được khởi đầu từ chiếc lán Khuổi Nặm đơn sơ tre nứa 70 năm trước như thế.
Thanh Thúy














