Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Hà Nội với Huỳnh Văn Nghệ

09:05, 27/05/2010

Hà Nội vốn là một mảnh đất phong phú cho nguồn cảm hứng thơ văn. Lịch sử, văn hóa, con người và thiên nhiên Hà Nội thôi thúc các nhà văn, nhà thơ sáng tác.

Hà Nội vốn là một mảnh đất phong phú cho nguồn cảm hứng thơ văn. Lịch sử, văn hóa, con người và thiên nhiên Hà Nội thôi thúc các nhà văn, nhà thơ sáng tác.

 

Hà Nội có rất nhiều vẻ đẹp khác nhau, trong đó có vẻ đẹp từ thơ văn mang lại. Ngay từ một ngàn năm trước, Lý Công Uẩn đã mang tới vẻ đẹp cho Thăng Long - Hà Nội khi định vị nơi này "Ở vào nơi trung tâm trời đất; được thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam Bắc Tây Đông; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng". Vẻ đẹp của Hà Nội trong áng văn Chiếu dời đô là một vẻ đẹp của một vị trí trung tâm - xứng đáng là kinh đô của một nước. Hà Nội đã trải qua bao biến đổi thăng trầm với bao số phận kiếp người. Nỗi niềm cảm thông của Nguyễn Du với thân phận người kỹ nữ, tâm sự cô đơn buồn tủi của Nguyễn Trãi trong mười năm bị giam cầm, tấm lòng hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan là những áng văn hay về Hà Nội. Hà Nội dưới triều đại phong kiến có những lúc cực kỳ bi tráng. Tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái đã mô tả một sự thật: sự sụp đổ không gì cưỡng nổi của nhà Lê và khí thế mạnh như vũ bão của đoàn quân áo vải Tây Sơn. Hà Nội với 36 phố phường mang dáng vẻ khác nhau trong văn Thạch Lam. Hà Nội với những món ăn ngon trong cái nhìn của chuyên gia ẩm thực Vũ Bằng. Hà Nội với mùa thu chớm lạnh, "những phố dài xao xác heo may" khi người Hà Nội ra đi kháng chiến trong thơ Nguyễn Đình Thi. Hà Nội với đoàn quân cảm tử quyết bảo vệ thủ đô trong tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng... Nhiều áng văn viết về Hà Nội đã phản ánh nhiều khía cạnh của Hà Nội, mỗi áng văn mang một vẻ đẹp khác nhau. Nhưng Hà Nội vẫn day dứt khôn nguôi một điều: chưa có một áng văn thơ nào nói lên được cái cội nguồn của Hà Nội, của miền Bắc - cái nôi của dân tộc Việt Nam.

 

Từ Hà Nội, từ miền Bắc, cha ông ta đã mở cõi để có được mảnh đất phương Nam màu mỡ như ngày nay. Điều này chỉ có thể là do chính người phương Nam nói ra. Và đã có một người lên tiếng. Người này không sống ở chốn Sài Gòn đô hội, không phải người miền Tây mênh mông sông nước mà là người ở chiến khu Đ rừng núi trập trùng, có dòng sông xanh Đồng Nai chảy uốn khúc. Đó là Huỳnh Văn Nghệ, quê ở làng Tân Tịch, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Huỳnh Văn Nghệ là một nhà chỉ huy quân sự lừng lẫy ở chiến khu Đ: tài trí, dũng cảm, hết lòng với đồng đội, đồng bào. Nhưng Huỳnh Văn Nghệ là một người "Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa", vừa chiến đấu làm thơ

 

Có chiến đấu thơ mới nên vần điệu

Càng hát ca, gươm càng sắc bén thêm

 

Thơ Huỳnh Văn Nghệ chân thật, giản dị nhưng không kém phần bay bổng, lãng mạn. Thơ ông ra đời từ ba nguồn: cảm hứng quê hương, cảm hứng anh hùng, cảm hứng về cội nguồn. Ba nguồn cảm hứng đều gắn với một địa chỉ tâm hồn: chiến khu Đ. Cảm hứng quê hương, cảm hứng anh hùng thì nhiều nhà thơ miền Nam cũng viết được hay như ông. Chỉ riêng cảm hứng về cội nguồn thì đó là nét riêng độc đáo, làm nên "thương hiệu" Huỳnh Văn Nghệ, không thể lẫn lộn được. Có lẽ khi viết bài thơ Nhớ Bắc xuất phát từ cảm xúc dạt dào với cội nguồn, ông đã không thể ngờ rằng mình đã viết nên được những câu thơ để đời nói hộ bao tấm lòng của những người con xa quê cha đất tổ.

 

Ai về Bắc ta đi với

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng

Từ độ mang gươm đi mở cõi

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long

 

Hai câu đầu chỉ là đề dẫn, hai câu sau cực kỳ xuất sắc làm rung động trái tim Hà Nội. Như vậy là Hà Nội chẳng phải chờ đến lễ kỷ niệm 300 năm hình thành vùng đất mới sẽ có một người con phương Nam nói lên lòng tri ân sâu sắc với Hà Nội, với miền Bắc. Lúc bấy giờ, năm 1946, tức là khoảng 250 năm, giữa rừng sâu chiến khu Đ, Huỳnh Văn Nghệ đại diện cho người dân phương Nam cất lên tiếng nói lịch sử, tiếng nói tâm hồn - vang lên qua nhiều thế hệ, truyền đến ngày nay và cả mai sau. Ông đã nói thông qua từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu thơ rất tuyệt vời. Đó là một trong những áng văn đẹp nhất, hùng tráng nhất viết về Hà Nội.

 

Hà Nội và cả miền Bắc đã mở rộng vòng tay đón Huỳnh Văn Nghệ và cả vợ con ông. Bởi, họ biết ông là một nhà chỉ huy quân sự xuất sắc, một nhà thơ đã viết những câu thơ hay nhất về Hà Nội, về miền Bắc. Năm 1952, ông được Trung ương điều ra Bắc. Năm 1954, vợ con ông tập kết ra cùng. Cả gia đình ông sống ở Hà Nội - mảnh đất mà trước đây ông chỉ tưởng tượng qua thơ. Ông đã sống ở Hà Nội hơn mười năm - những năm tháng đầy khó khăn về vật chất nhưng nồng ấm tình người. Khí phách của người Nam bộ lại được hun đúc bởi hào khí Thăng Long đã đưa ông trở về quê hương tham gia chiến đấu năm 1965. Ở Hà Nội, các con ông đã được học tập, trưởng thành trong một môi trường văn hóa tốt. Họ đã trở nên thành đạt sau này. Huỳnh Văn Nghệ qua đời ở tuổi 63, sau ngày giải phóng miền Nam hai năm. Nếu còn sống thêm vài năm nữa, tôi chắc Huỳnh Văn Nghệ sẽ có thêm một bài thơ về Hà Nội. Không phải là đại diện người dân phương Nam như bài thơ Nhớ Bắc viết năm 1946, ông sẽ đại diện gia đình nói lời cảm ơn với Hà Nội đã nuôi nấng, dạy dỗ các con ông nên người. Một bài thơ mang tình cảm riêng nhưng cũng là tấm lòng của những người miền Nam tập kết sống ở Hà Nội, ở miền Bắc.

 

Nhà nước đã ghi nhận công lao của ông bằng hai danh hiệu vẻ vang: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và giải thưởng Nhà nước về Văn học - nghệ thuật. Ông là người Việt Nam vinh dự cùng lúc đạt hai phần thưởng cao quý ấy.

Bùi Quang Tú

 

Tin xem nhiều