Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Nhân họp mặt kỷ niệm 45 năm thành lập Căn cứ Tỉnh ủy Biên Hòa U1:
Tỉnh ủy Đồng Nai lãnh đạo kháng chiến đi đến thắng lợi vẻ vang

08:04, 19/04/2010

Trong kháng chiến chống Mỹ, Tỉnh ủy Đồng Nai có nhiều tên gọi khác nhau: Biên Hòa U1, Thủ Biên, Biên Hòa (gồm cả đô thị và nông thôn)... Dù tên gọi có khác nhau nhưng nhiệm vụ lãnh đạo toàn Đảng bộ, toàn quân, toàn dân kháng chiến giành lại độc lập, đặc biệt là vào những ngày tháng 4-1975 lịch sử của Tỉnh ủy là nhất quán, kịp thời và đúng đắn.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Tỉnh ủy Đồng Nai có nhiều tên gọi khác nhau: Biên Hòa U1, Thủ Biên, Biên Hòa (gồm cả đô thị và nông thôn)... Dù tên gọi có khác nhau nhưng nhiệm vụ lãnh đạo toàn Đảng bộ, toàn quân, toàn dân kháng chiến giành lại độc lập, đặc biệt là vào những ngày tháng 4-1975 lịch sử của Tỉnh ủy là nhất quán, kịp thời và đúng đắn.

 

* 30 năm chỉ có một ngày

 

Trước tình hình Mỹ đổ quân trực tiếp xâm lược miền Nam, TX.Biên Hòa càng có tính chất chiến lược quan trọng. Ngày 5-9-1965, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập một đơn vị chiến trường tương đương cấp tỉnh, gọi là U1 gồm TX.Biên Hòa và huyện Vĩnh Cửu.

 

Sư đoàn 6 đánh chiếm sở chỉ huy Quân đoàn 3 ngụy ở Biên Hòa ngày 30-4-1975.

Tỉnh ủy U1 (Tỉnh ủy Biên Hòa) ra đời được xác định là để: Củng cố và phát triển cơ sở ở nội ô và ngoại ô thị xã; kết hợp đấu tranh chính trị trong nội ô với hoạt động vũ trang diệt ác phá kìm. Bên ngoài vùng ven, Căn cứ U1 đánh địch càn quét, đánh hủy diệt phương tiện chiến tranh cao cấp của Mỹ - ngụy.

 

Tháng 5-1971, Trung ương Cục quyết định sáp nhập Phân khu V và Biên Hòa U1 thành Phân khu Thủ Biên. Tháng 10-1972, Trung ương Cục quyết định tách Phân khu Thủ Biên, lập lại tỉnh Biên Hòa và TX.Biên Hòa. Đồng chí Phan Văn Trang, Phó bí thư Tỉnh ủy kiêm Bí thư Thị ủy Biên Hòa. Tháng 6-1973, Thường vụ Khu ủy miền Đông quyết định tách tỉnh Biên Hòa làm hai: Biên Hòa nông thôn và Biên Hòa đô thị.

 

Mở màn Chiến dịch Xuân Lộc, Thường vụ Khu ủy, Bộ Tư lệnh Miền xác định TP.Biên Hòa là trọng điểm của miền Đông, là tuyến phòng thủ cuối cùng bảo vệ đầu não của ngụy quyền Sài Gòn. Ngày 10-4-1975, Bí thư Thành ủy Phan Văn Trang đã làm việc với cán bộ nội thành để phổ biến Nghị quyết và giao nhiệm vụ cho từng cán bộ, đảng viên lãnh đạo nhân dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Thành ủy Biên Hòa xác định, những địa phương và vị trí trong thành phố cần tập trung giải phóng và tiếp quản gồm: Cù lao phố, Bửu Hòa, trạm biến điện, nhà máy nước, Khu kỹ nghệ Biên Hòa, quận Đức Tu và các xã Long Bình, Long Hưng, An Hòa, Phước Tân... Trực tiếp Bí thư Thành ủy chỉ đạo đến các chi bộ, cán bộ, đảng viên trong nội và ngoại ô thành phố là: "Phải phóng tay phát động quần chúng, nói cho quần chúng biết 30 năm chỉ có một ngày".

 

* Lãnh đạo giải phóng Biên Hòa

 

Ngày 14-4-1975, Đoàn pháo binh Biên Hòa với trận địa pháo 130 ly đặt tại Hiếu Liêm, bắn từng đợt vào sân bay Biên Hòa. Hơn một nửa số máy bay tại căn cứ này không còn khả năng cất cánh đi ném bom yểm trợ cho các mặt trận Xuân Lộc và Phan Rang. Nắm lấy thời cơ này, các chi bộ, cán bộ, đảng viên, quần chúng cốt cán trong thành phố kịp thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền binh vận, làm rã ngũ hàng ngàn tên địch, đồng thời khẩn trương phát động đồng bào nổi dậy giải phóng thành phố.

 

Ngày 16-4, Thành ủy Biên Hòa ra Nghị quyết: "Tổng công kích và nổi dậy giải phóng TP.Biên Hòa". Nghị quyết xác định các mục tiêu trọng điểm trong thành phố để bố trí lực lượng, phối hợp với bộ đội chủ lực đánh chiếm những cứ điểm quan trọng như: Sân bay Biên Hòa, Quân đoàn 3, Tổng kho liên hợp Long Bình. Lực lượng vũ trang, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, quần chúng nòng cốt tại chỗ được Thành ủy quán triệt là khi lực lượng chủ lực từ bên ngoài đánh vào thì kết hợp và phát động quần chúng nổi dậy cướp chính quyền.

 

Thời điểm đó, trong nội và ngoại thành chỉ có 31 đảng viên và gần 600 cơ sở cốt cán trong nội - ngoại thành. Thành ủy nhận định: Tuy lực lượng ta ít, nhưng được bố trí đều khắp ở những nơi quan trọng. Mặt khác, ta nắm được 9 đội phòng vệ dân sự có trang bị trên 300 khẩu súng kết hợp với quân chủ lực thì có thể giải phóng bên ngoài, còn lực lượng tại chỗ (ngay trong các cơ quan dân và quân sự của ngụy) đủ sức nổi dậy cướp chính quyền bên trong.

 

Đến ngày 20-4, thành phố đã thành lập xong 15 ủy ban khởi nghĩa ở Khu kỹ nghệ, các xã và khu vực nội ô. Ngày 21-4, khi Xuân Lộc thất thủ, địch vội vã tăng cường phòng thủ tuyến Biên Hòa. Chúng bố trí quân lực dày đặc từ Hố Nai đến Long Bình. Trong nội ô, chúng chiếm các cao ốc, biệt thự làm ụ chiến đấu, đặt chướng ngại vật trên các đường phố, đặt mìn chuẩn bị phá các cầu dẫn vào Sài Gòn. Trong khi đó, Bộ Chỉ huy tiền phương mặt trận Biên Hòa họp bàn với đơn vị chủ lực - Quân đoàn 4 chuẩn bị các phương án, kế hoạch đánh chiếm và tiếp quản thành phố.

Tòa hành chính Biên Hòa trong ngày giải phóng 30-4-1975.

Ngày 23-4, sân bay Biên Hòa bị uy hiếp, buộc địch phải di tản máy bay phản lực F5 về sân bay Tân Sơn Nhất và máy bay chiến đấu A37 về Cần Thơ. Đêm đó, giới chức Lãnh sứ quán Mỹ ở Biên Hòa vội vã lên trực thăng chạy về Sài Gòn. Ngày 26-4, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy hối hả bỏ Biên Hòa rút chạy về Gò Vấp. 17 giờ 30 ngày 27-4, pháo của ta bắn cấp tập vào sân bay Biên Hòa và căn cứ Long Bình. Địch chống trả quyết liệt. Pháo của địch ở Hốc Bà Thức và Long Bình bắn hàng ngàn trái đạn hòng ngăn chặn bước tiến của quân ta.

 

Song, quân ta đã chiến đấu kiên cường và lần lượt đánh chiếm các cầu: Hang, Mới, Gành, Đồng Nai; giải phóng và tiếp quản nhiều xã từ Long Thành đến Biên Hòa. Sáng sớm ngày 29-4, đại tá Lưu Yểm, Tỉnh trưởng Biên Hòa đã trốn chạy về Sài Gòn. Sĩ quan, binh lính ở Nha cảnh sát miền Đông, Ty cảnh sát Biên Hòa, Chi khu Đức Tu... cũng đã bỏ chạy. Buổi chiều ngày 29-4, anh em tù chính trị ở nhà lao Tân Hiệp nổi dậy phá khám.

 

Đến sáng sớm ngày 30-4, ta đã giải phóng được Khu kỹ nghệ Biên Hòa. Đúng 10 giờ 30, Ủy ban quân quản Biên Hòa và Trung đoàn 5 đã vào tiếp quản Tòa hành chính tỉnh Biên Hòa. Như vậy cùng với Sài Gòn, buổi trưa ngày 30-4-1975, tỉnh Biên Hòa đã được giải phóng.

P.V

(Ghi theo lời kể của đồng chí PHAN VĂN TRANG và các nhân chứng lịch sử)

 

 

 

Tin xem nhiều