Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Gương sáng đất Thăng Long: Chu Văn An - Vị "thánh sư" trong lịch sử

09:03, 04/03/2010

"Làm Thầy giáo giỏi của một đời, để đạt tới làm Thầy giáo giỏi của muôn đời". Đó là lời bình của Nhà Sử học nổi tiếng Phan Huy Chú về Chu Văn An, Nhà giáo mẫu mực về nhân cách và khí phách, đã nêu tấm gương sáng cho muôn đời.

"Làm Thầy giáo giỏi của một đời, để đạt tới làm Thầy giáo giỏi của muôn đời". Đó là lời bình của Nhà Sử học nổi tiếng Phan Huy Chú về Chu Văn An, Nhà giáo mẫu mực về nhân cách và khí phách, đã nêu tấm gương sáng cho muôn đời.

 

Đền thờ Chu Văn An tại núi Phượng Hoàng  đang được xây dựng đúng tầm vóc, thân thế sự nghiệp của một nhà giáo mẫu mực của muôn đời.

Chu Văn An (1292-1370), tức Chu An tên chữ là Linh Triệt, người làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là Thanh Trì, Hà nội). Theo "Đăng khoa học bổ dị", ông thi đậu Thái học sinh (tiến sĩ) nhưng không ra làm quan mà trở về mở trường dạy học trên một cánh đồng tại làng Huỳnh Cung, giáp với thôn Văn.

 

* Thầy giáo giỏi của muôn đời

 

Chu Văn An là người học rộng biết nhiều, nhưng không ham công danh phú quý, sinh thời ông dành phần lớn thời gian cho sự nghiệp trồng người. Theo Đại Việt sử ký toàn thư: "An tính người cương trực, ít giao du, sửa mình trong sạch, bền giữ tiết tháo, không cầu danh lợi hiển đạt, ở nhà đọc sách, học vấn tinh nhuần, tiếng đồn gần xa, học trò đầy cửa; thỉnh thoảng có người đỗ đại khoa vào chính phủ như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát khi đến thăm vẫn lạy ở dưới giường, được An hỏi vài câu rồi ra đi rất lấy làm mừng...".

 

Đức độ, tài năng của ông nức tiếng gần xa, bởi thế đến đời vua Trần Minh Tông, ông được mời vào làm Tư nghiệp ở Quốc Tử Giám (tức Phó hiệu trưởng trường Quốc Tử Giám). Tại đây, thầy Chu đã dạy học thái tử Trần Vượng. Đồng thời, ông còn chăm lo việc mở mang Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của nước ta. Ông viết "Tứ thư thuyết ước", tóm tắt 4 bộ sách lớn: "Luận ngữ", "Mạnh tử", "Đại học", "Trung dung" làm giáo trình giảng dạy trong trường. Ông cùng với Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn tham gia công việc củng cố triều đình lúc đó đang đi vào con đường khủng hoảng, suy thoái. Thầy Chu Văn An nhiều lần can ngăn Dụ Tông mà không được. Triều đình thối nát, nhân dân khổ cực trăm bề. Trước tình hình đó, Chu Văn An viết "Sớ thất trảm" đòi chém đầu 7 tên quyền thần gian nịnh. Việc làm của ông làm chấn động dư luận đương thời. Song, Sớ trảm của ông không được nhà vua chấp thuận, Chu Văn An đã "treo mũ ở cửa Huyền Vũ" rồi bỏ quan về ở ẩn tại núi Phượng Hòang, thuộc Kiệt Đắc, huyện Chí Linh (Hải Dương). Mặc dù về nơi xa ở ẩn nhưng học trò tìm đến ông để học không hề giảm, cho thấy tầm ảnh hưởng của thầy An thật lớn. Ngoài việc dạy học, Chu Văn An còn trồng cây thuốc, nghiên cứu y học, chữa bệnh cho dân và làm thơ, viết sách. Sử sách còn ghi lại những cuốn sách của ông , như: "Y học yếu giải", "Quốc ngữ thi tập", "Tiều Ẩn thi tập" và một số tác phẩm thơ ca bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Sau khi ông mất, vua Trần dành cho ông một vinh dự lớn bậc nhất đối với một trí thức là được thờ ở Văn Miếu. Ngoài ra, vua còn ban thụy cho ông là Văn Trinh nhằm biểu dương một con người đã kết hợp được hai mặt của đạo đức: bên ngoài thuần nhã, hiền hòa với bên trong chính trực, kiên định.

 

Trong lịch sử giáo dục nước nhà, Chu Văn An đã giành được địa vị cao quý bậc nhất, xứng đáng đứng đầu các nhà giáo từ xưa tới nay. Đúng như lời nhà sử học Phan Huy Chú từng ca ngợi ông: "Học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được...".

 

* Dấu vết người hiền

Phần mộ của thầy Chu Văn An tại núi Phượng Hoàng.

Từ lâu, các thế hệ học giả đều nhất trí danh dự của Chu An trong lịch sử Văn hóa Việt Nam. Ông là nhà Nho có tiết tháo cương trực, đấu tranh cho chính nghĩa, căm ghét bọn gian tà, bất bình với kẻ cầm quyền tha hóa. Bài văn "Thất trảm" của ông được đánh giá là "Nghĩa động càng khôn" (Nghĩa khí rung chuyển đất trời). Ông là một ẩn sĩ thanh cao, gương mẫu, không vướng những ô trọc ở đời. Ông là thi sĩ thiên nhiên, ý tứ độc đáo, nghệ thuật dồi dào hình tượng, ngôn từ điêu luyện. Nổi bậc ông là một nhà sư phạm gương mẫu, một thầy giáo đạo cao đức trọng. Chính vì thế mà nhiều di tích liên quan đến ông đều gắn với uy danh người thầy giáo. Đó là đền thờ ông làm thành hoàng ở quê hương Thanh Liệt, bên hữu ngạn sông Tô Lịch. Bên cạnh đền Thanh Liệt, có đền làng Hùynh Cung (tên trường học của Chu Văn An khi ông ở Thăng Long). Đền thứ 3 là Văn Điển (tại huyện Thanh Trì). Đặc biệt, nơi ẩn dật của ông ở Chí Linh (núi Phượng Hoàng) cũng được dựng đền, đặc biệt nơi đây có dựng cột đá khắc 8 chữ: "Chu Văn Trinh tiên sinh ẩn cư xứ". Được biết, đầu năm 2008 khuôn viên đền thờ núi Phượng Hòang  đã được Nhà nước xếp hạng Khu di tích lịch sử quốc gia và được trùng tu, tôn tạo. Trong buổi lễ cắt băng khánh thành trùng tu khu di tích, Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân khẳng định: "Sự nghiệp và cuộc đời nhà giáo Chu Văn An có ảnh hưởng sâu rộng tới mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tầng lớp trí thức Việt Nam. Qua hơn 600 năm, sự nghiệp và những giá trị tinh thần mà nhà giáo Chu Văn An để lại là tài sản vô giá được bảo tồn và phát huy cùng với tiến trình phát triển văn hóa của dân tộc". Chung quanh Chu Văn An còn có nhiều giai thoại và truyền thuyết. Đó là giai thoại về người học trò đã trở thành bậc đại thần, nhưng vẫn giữ gìn lễ độ, tuân theo phép tắc nghiêm ngặt của thầy. Và truyền thuyết nói về thần Lân Đàm cũng là học trò của ông (theo Linh Nam chích quái) đã vâng lời ông làm mưa cứu nạn nên bị trời phạt. Vùng Thanh Trì, Thanh Oai có mộ và đền thờ thuồng luồng này, và đều gắn với uy tín của Chu Văn An. Những di tích như Đầm Mực, Miếu Gàn cũng nằm trong hệ thống truyền thuyết ấy. 

 

Thăng Long - Hà Nội,  những chặng đường lịch sử

Thăng Long - Hà Nội thời Sơn Tây (1788 - 1802)

Cuối năm 1788, Kinh đô và đất nước Đại Việt lại phải đương đầu với cuộc xâm lược của đế chế Mãn Thanh. Từ Phú Xuân (Huế), vua Quang Trung thống lĩnh đại quân Tây Sơn tiến ra Bắc, giải phóng Thăng Long. Giặc tan, vua Quang Trung về đóng đô ở Huế. Thăng Long là thủ phủ của Bắc Thành. Hoàng thành Thăng Long vẫn được nhà Tây Sơn cho tu sửa, đắp lại những đoạn bị sụt đổ. Chùa Kim Liên (Nghi Tàm), chùa Tây Phương (Thạch Thất), tượng Tuyết Sơn và 18 vị La Hán được tu bổ, tôn tạo; nhiều chuông to, đẹp được đúc. Sau chiến thắng, vua Quang Trung ra lệnh cho quân sĩ và nhân dân thu gom xác giặc, chôn cất và sai lập đàn chẩn tế, tu sửa chùa Bộc làm nơi quy y cho quân sĩ nhà Thanh; ban Chiếu khuyến nông, khuyến khích nhân dân trở về quê cũ khai khẩn ruộng bỏ hoang, phục hồi sản xuất; ban Chiếu lập học khuyến khích các địa phương mở trường học. Lập Viện Sùng Chính để dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm, đưa chữ Nôm lên địa vị chính thức của quốc gia. Lịch sử triều đại Tây Sơn tuy ngắn ngủi, nhưng đã để lại những dấu ấn đậm nét trong trang sử Thăng Long - Hà Nội văn hiến, anh hùng.

(Theo BTG.TW)

Thanh Thủy

 

 

 

 

Tin xem nhiều