
Có lẽ đây là lần đầu tiên trong tỉnh, cả một tập thể gồm cấp ủy Đảng, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc ở một địa phương cùng có văn bản kiến nghị lên cấp trên xem xét lại một số vấn đề được coi là thiếu khách quan và còn nhiều khuất tất trong một vụ tranh chấp dân sự giữa hai công dân đã được tòa án hai cấp xét xử. Điều gì đã khiến cho chính quyền ở cơ sở phải lên tiếng can thiệp?
Có lẽ đây là lần đầu tiên trong tỉnh, cả một tập thể gồm cấp ủy Đảng, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc ở một địa phương cùng có văn bản kiến nghị lên cấp trên xem xét lại một số vấn đề được coi là thiếu khách quan và còn nhiều khuất tất trong một vụ tranh chấp dân sự giữa hai công dân đã được tòa án hai cấp xét xử. Điều gì đã khiến cho chính quyền ở cơ sở phải lên tiếng can thiệp?
* Từ một hợp đồng không thành
Sự việc bắt đầu từ việc vợ chồng ông bà Huỳnh Việt Hùng - Trần Thị Loan, ngụ tại xã Gia Tân 2 (Thống Nhất) khởi kiện vợ chồng ông bà Nguyễn Văn Hóa - Nguyễn Thị Lan, ngụ tại xã Gia Tân 1 (Thống Nhất) do không thực hiện đúng hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo trình bày của ông Hùng, ngày 9-7-2002, vợ chồng ông Hùng mua của vợ chồng ông Hóa 1 căn nhà cùng diện tích đất 4.828m² tại Dốc Mơ, xã Gia Tân với giá 56.000USD, nhưng được thanh toán bằng tiền Việt Nam theo tỷ giá thời điểm đó. Việc mua bán được lập thành văn bản, theo đó ông Hùng đặt cọc cho ông Hóa 153 triệu đồng, tương đương 10.000 USD; số còn lại sẽ được thanh toán làm 2 lần, khi ông Hóa giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thế nhưng, ba ngày sau khi nhận tiền đặt cọc, ông Hóa cố tình trì hoãn, không chịu bán nhà như đã thỏa thuận. Vì vậy, ông Hùng khởi kiện, đòi bồi thường gấp đôi số tiền đã đặt cọc. Ông Hóa thừa nhận vợ chồng có thỏa thuận bán nhà cho ông Hùng, việc mua bán hai bên cùng thống nhất thanh toán bằng đô la Mỹ, số tiền đặt cọc là 10.000 USD chứ không phải là 153 triệu đồng. Nhưng khi tìm hiểu thì ông Hóa được biết diện tích đất của ông sang nhượng là đất nông nghiệp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cùng thời điểm đó lại có Chỉ thị 15 của UBND tỉnh, ngưng không cho chuyển nhượng đất nông nghiệp, hơn nữa trong gia đình không có sự thống nhất nên vợ chồng ông Hóa không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng và chỉ chấp nhận trả lại 10.000 USD tiền nhận cọc và lãi suất theo ngân hàng. Kết quả của vụ kiện này, cả hai cấp là TAND huyện Thống Nhất (xử ngày 11-4-2003) và TAND tỉnh (xử ngày 14-8-2004) đều tuyên buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Hóa phải trả cho ông Huỳnh Việt Hùng - bà Trần Thị Loan số tiền 306 triệu đồng, trong đó tiền cọc trả lại là 153 triệu đồng, tiền phạt cọc là 153 triệu đồng.
* 153 triệu đồng từ đâu ra?
Trước quyết định của tòa án, ông Hóa một mực cho rằng hợp đồng mua bán giữa vợ chồng ông với vợ chồng ông Hùng được giao dịch bằng ngoại tệ, trong hợp đồng được thỏa thuận là 56.000 USD và số tiền ông nhận cọc là 10.000 USD, trong hợp đồng mua bán ghi là lập thành 2 bản, nhưng tin tưởng ở ông Hùng là anh em họ hàng với nhau nên ông Hóa yêu cầu chỉ cần viết một bản do ông Hùng giữ là đủ, bởi ông Hóa là người giữ tiền, ông Hùng là người giữ giấy. Theo ông Hóa thì ông Hùng đã thêm nội dung hợp đồng dòng chữ thanh toán bằng tiền Việt Nam theo tỷ giá hiện hành, dòng chữ này được ghi kế con số 56.000 USD mà hai bên đã thỏa thuận mua bán được ghi ở dòng cuối của mặt trước nội dung hợp đồng mua bán. Đây là cơ sở cho hai cấp tòa án nhận định việc giao dịch giữa ông Hùng với ông Hóa được thực hiện bằng tiền đồng Việt Nam. Thực tế, khả năng ông Hùng ghi thêm dòng chữ này là điều có thể vì ông Hùng là người viết hợp đồng và việc thay đổi từ ngoại tệ sang tiền đồng Việt Nam là yếu tố cho yêu cầu của ông Hùng đòi bồi thường tiền cọc được chấp nhận, còn nếu việc giao dịch giữa ông Hùng và ông Hóa được thực hiện bằng ngoại tệ là điều không được pháp luật cho phép dẫn đến hợp đồng sẽ vô hiệu, thì ông Hóa sẽ không bị phạt cọc. Tuy nhiên, trong nội dung hợp đồng mua bán giữa ông Hùng và ông Hóa đã thể hiện rõ việc ông Hùng giao tiền cọc cho ông Hóa bằng ngoại tệ qua nội dung: bên mua trước mắt đặt cọc 10.000 USD... Cẩn thận hơn, ông Hùng còn mở ngoặc ghi rõ bằng chữ số tiền đặt cọc. Ngoài ra, trong nội dung hợp đồng không có câu chữ nào thể hiện ông Hùng đặt cọc bằng tiền Việt Nam. Điều này trái với lời khai của ông Hùng tại tòa án khi cho rằng đã đặt cọc 153 triệu đồng tương đương với 10.000 USD. Ngay sau khi vụ kiện được TAND huyện Thống Nhất thụ lý, ông Hóa đã mang 10.000 USD đến TAND huyện Thống Nhất yêu cầu cho giám định vân tay để làm bằng chứng, mà theo ông Hóa là số tiền cọc do chính tay bà Trần Thị Loan (vợ ông Hùng) giao cho ông. Nhưng chứng cứ quan trọng này đã không được TAND huyện Thống Nhất chấp nhận. Tuy nhiên, yêu cầu trên của ông Hóa đã được TAND tỉnh chấp thuận, nhưng kết quả giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh là không thu được đường vân vì thời gian quá lâu (1 năm) nên không tiến hành giám định được. Trong cả hai cấp xử, tòa án đều không cho mời bà Trần Thị Loan đến đối chất tại tòa, trong khi bà Loan là người giao tiền đặt cọc.
* Chính quyền địa phương: nội dung vụ án đã bị sai lệch!
Trong vụ tranh chấp này, UBND xã Gia Tân 1 là cấp giải quyết ban đầu, các cán bộ xã là bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch UBND xã Gia Tân 1, cán bộ tư pháp xã trở thành những nhân chứng của vụ kiện. Sau phiên tòa xét xử sơ thẩm, UBND xã Gia Tân 1 đã có văn bản gửi TAND tỉnh và nhiều ban, ngành trong tỉnh yêu cầu hoãn xử vụ kiện vì hồ sơ đã bị đánh tráo, dẫn đến kết quả xét xử của tòa án bị sai lệch. Nội dung công văn cho biết vào tháng 7-2002, ông Huỳnh Việt Hùng đến UBND xã Gia Tân 1 trình bày về việc mua bán nhà, đất với ông Hóa không thành và nhờ chính quyền hòa giải. Ông Nguyễn Quang Đạo, Phó chủ tịch UBND xã Gia Tân 1 là người trực tiếp chủ trì hòa giải 2 lần nhưng không thành. Do có việc gia đình, ông Đạo xin nghỉ phép về quê. Trước khi nghỉ, ông Đạo có đề nghị với ông Nguyễn Văn Lý, cán bộ tư pháp xã chờ hòa giải thêm lần thứ ba, nếu không thành thì chuyển tòa giải quyết. Thế nhưng, trong thời gian ông Đạo nghỉ phép thì ông Lý đã chuyển hồ sơ vụ kiện cho TAND huyện giải quyết; có điều, người chuyển hồ sơ chính là ông Hùng và hồ sơ đã không được niêm phong cũng như không được phô-tô lưu trữ lại. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Đạo được TAND tỉnh mời lấy lời khai với tư cách nhân chứng. Xem lại hồ sơ, ông Đạo phát hiện đơn khiếu nại của ông Hùng do ông trực tiếp hòa giải hai lần đã không còn, thay vào đó là một lá đơn khác có thêm dòng chữ: “Trước mắt, tôi đã đặt cọc cho ông bà Hóa 153 triệu đồng tương đương với 10.000 USD”. Lá đơn này có thêm chứng nhận của công an xã Gia Tân, điều mà lá đơn trước ông Đạo xem để hòa giải không hề ghi. Đồng thời biên bản hòa giải lần đầu không có yếu tố nào liên quan đến tiền Việt Nam cũng đã biến mất. Vì vụ khiếu nại với số tiền rất lớn nên sau các lần hòa giải, ông Đạo đều báo cáo với bí thư, chủ tịch UBND xã. Tiếp chúng tôi, ông Nguyễn Quang Đạo, nay là Chủ tịch UBND xã Gia Tân 1, khẳng định: "Cả hai lần hòa giải, tất cả đơn từ, nội dung khiếu nại đều thể hiện việc giao dịch giữa hai bên đều bằng đô-la không hề có yếu tố nào nói đến tiền đồng Việt Nam. Tôi khẳng định hồ sơ đã bị sai lệch, nhưng tòa đã cho rằng không đủ chứng cứ. Sau khi TAND tỉnh xử phúc thẩm vụ tranh chấp giữa ông Hùng và ông Hóa, ngày 16-9-2003, tập thể cấp ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ xã Gia Tân 1 đã tiếp tục có văn bản kiến nghị cấp trên và các cơ quan có thẩm quyền xem xét lại vụ án này".
Nguyên Lễ














