Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Ổn định dân số để tăng chất lượng

03:07, 07/07/2005

Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết 4 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ), nhận thức của toàn xã hội đã có bước chuyển biến rõ rệt.

Bộ trưởng , Chủ nhiệm Ủy ban DSGĐ-TE Lê Thị Thu tặng cờ lưu niệm cho các đơn vị tham dự liên hoan tuyên truyền viên cơ sở DSGD-TE khu vực phía Nam .

Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết 4 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ), nhận thức của toàn xã hội đã có bước chuyển biến rõ rệt. Quy mô gia đình có một hoặc hai con được chấp nhận ngày càng rộng rãi; nhịp độ gia tăng dân số nhanh đã được khống chế. Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ trên 3,5 con (năm 1992) xuống 2,28 con (năm 2002), tỉ lệ tăng dân số giảm tương ứng từ hơn 2% xuống 1,32%. Kết quả của công tác DS-KHHGĐ đã góp phần rất quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập bình quân đầu người hàng năm, xóa đói giảm nghèo và nâng cao mức sống của nhân dân.

Với những thành tựu của công tác DS-KHHGĐ, năm 1999, Việt Nam đã được nhận Giải thưởng Dân số của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, từ sau năm 2000 đến nay, kết quả thực hiện chính sách DS-KHHGĐ chững lại và giảm sút. Trong hai năm 2003 và 2004, tỉ lệ phát triển dân số, tỉ lệ sinh con thứ ba trở lên tăng mạnh trở lại. Đặc biệt là tình trạng cán bộ, đảng viên sinh con thứ ba trở lên tăng nhiều ở hầu hết các địa phương, gây tác động tiêu cực đến phong trào thực hiện kế hoạch hóa gia đình của toàn dân. Tình hình này đã làm chậm thời gian đạt mức sinh thay thế (trung bình mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có hai con). Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là do chúng ta chưa nhận thức đầy đủ tính chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của công tác này, dẫn đến chủ quan, thỏa mãn với những kết quả ban đầu, buông lỏng lãnh đạo, chỉ

VN đạt kết quả đáng khích lê trong viêc đảm bảo bình đẳng

Bà Magali Romedenne, cán bộ về vấn đề giới của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), khẳng định Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong việc đảm bảo bình đẳng giới.

Tại cuộc họp báo nhân kỷ niệm ngày Dân số Thế giới hàng năm (11-7) tổ chức ngày 5-7 ở Hà Nội, bà Romedenne nói, lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam gần như đã đạt được cân bằng về giới, với tỷ lệ 92% các bé gái nhập học ở cấp tiểu học, tỷ lệ nữ giới trưởng thành biết đọc,  biết viết đạt 86,9% (hơi thấp hơn so với tỷ lệ 93,9% nam giới trưởng thành biết đọc, biết viết). Chính phủ Việt Nam đã thể hiện những cam kết mạnh mẽ nhằm cải thiện sức khỏe bà mẹ trẻ em và chất lượng dân số thông qua việc thực hiện Chiến lược Dân số quốc gia giai đoạn 2001-2010, Chiến lược chăm sóc sức khỏe sinh sản (2001-2010) và chính sách chăm sóc y tế miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi. Bà cũng ghi nhận tỷ lệ mang thai và tỷ lệ tử vong bà mẹ và trẻ sơ sinh đang tiếp tục giảm xuống là những thành tựu quan trọng của Việt Nam trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Trọng tâm kỷ niệm ngày Dân số Thế giới năm nay là vấn đề bình đẳng giới.

 

đạo, thiếu kiên định trong tổ chức thực hiện chính sách DS-KHHGĐ. Tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác dân số thiếu ổn định, quá tải; cơ chế quản lý kém hiệu quả, điều hành chương trình lúng túng, chậm đổi mới; việc ban hành Pháp lệnh Dân số và một số chính sách khác thiếu chặt chẽ. Trong hoàn cảnh kinh tế nước ta chưa phát triển, tình trạng nghèo đói còn nhiều, tài nguyên thiên nhiên hạn hẹp, mật độ dân số vào hàng cao nhất thế giới... thì việc dân số tăng nhanh trở lại sẽ phá vỡ những thành quả đã đạt được, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, làm chậm quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đặt nước ta trước nguy cơ tụt hậu xa hơn. Điều cần thiết lúc này là tiếp tục quán triệt và kiên quyết thực hiện Nghị quyết 4 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII về chính sách DS-KHHGĐ; phấn đấu sớm đạt được mục tiêu về ổn định quy mô dân số, đồng thời từng bước nâng cao chất lượng dân số Việt Nam. Chủ trương mỗi cặp vợ chồng chỉ có một đến hai con để có điều kiện nuôi dạy tốt vẫn mang tính chất thời sự nóng bỏng. Nghị quyết số 47- NQ/TW ban hành ngày 22-3-2005 nêu rõ: "Nhanh chóng đạt mức sinh thay thế (trung bình mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có hai con), tiến tới ổn định quy mô dân số nước ta ở mức 115-120 triệu người vào giữa thế kỉ XXI. Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam về thể chất, trí tuệ, tinh thần, cơ cấu nhằm đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Các cấp ủy Đảng và chính quyền phải nghiêm túc kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện chính sách DS-KHHGĐ của địa phương, đơn vị; có kế hoạch và biện pháp khắc phục những yếu kém, bất cập, kiên quyết ngăn chặn khuynh hướng sinh nhiều con. Đưa công tác DS-KHHGĐ thành một nội dung quan trọng trong chương trình hoạt động của các cấp ủy Đảng và chính quyền, xem đây là một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị, địa phương. Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của địa phương, đơn vị, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và thường xuyên giám sát, kiểm tra tình hình thực hiện công tác này theo mục tiêu đã đề ra. Các cấp, các ngành, đoàn thể nhân dân cần nâng cao trách nhiệm trong công tác DS-KHHGĐ, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho mỗi gia đình, mỗi người dân tự nguyện thực hiện chính sách DS-KHHGĐ. Các cán bộ, đảng viên phải gương mẫu đi đầu thực hiện, đồng thời tuyên truyền, vận động và giáo dục nhằm làm chuyển biến sâu sắc về nhận thức và tâm lý. Tập quán sinh đẻ cần được quan tâm thích đáng trong từng gia đình, từng cá nhân khi đã có nhận thức đúng đắn thì họ chính là những người làm cho Nghị quyết trở thành hiện thực. Bên cạnh đó, việc kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ và nâng cao hiệu lực quản lý từ trung ương đến cơ sở trong điều kiện ngày nay cũng hết sức quan trọng, có tác động đến phong trào chung của cơ sở cho đến cả nước. Ổn định dân số chính là bước đi đầu, tạo tiền đề cho việc nâng cao chất lượng dân số. Dân số ổn định là để kinh tế, xã hội phát triển. Chất lượng dân số được nâng cao chính là nhằm đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Chiến lược dân số Việt Nam 2001-2010 đã chuyển hướng cách tiếp cận từ số lượng sang chất lượng với trọng tâm là giảm sinh và giải quyết những vấn đề dân số theo hướng rộng hơn, nó bao gồm về quy mô dân số, chất lượng dân số, phân bổ dân cư, sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới. Điều hòa quan hệ giữa việc duy trì số lượng với việc nâng cao chất lượng dân số, giữa phát triển dân số với phát triển nguồn nhân lực, giữa phân bố và di chuyển dân cư..., trong đó mỗi gia đình hạnh phúc, ấm no là tiền đề để xã hội ổn định và phồn vinh.

Nguyễn Thị Thúy

(TTXVN)

Tin xem nhiều