
Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết 4 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ), nhận thức của toàn xã hội đã có bước chuyển biến rõ rệt.
Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết 4 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ), nhận thức của toàn xã hội đã có bước chuyển biến rõ rệt. Quy mô gia đình có một hoặc hai con được chấp nhận ngày càng rộng rãi; nhịp độ gia tăng dân số nhanh đã được khống chế. Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ trên 3,5 con (năm 1992) xuống 2,28 con (năm 2002), tỉ lệ tăng dân số giảm tương ứng từ hơn 2% xuống 1,32%. Kết quả của công tác DS-KHHGĐ đã góp phần rất quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập bình quân đầu người hàng năm, xóa đói giảm nghèo và nâng cao mức sống của nhân dân.
Với những thành tựu của công tác DS-KHHGĐ, năm 1999, Việt
| VN đạt kết quả đáng khích lê trong viêc đảm bảo bình đẳng Bà Magali Romedenne, cán bộ về vấn đề giới của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), khẳng định Việt
Tại cuộc họp báo nhân kỷ niệm ngày Dân số Thế giới hàng năm (11-7) tổ chức ngày 5-7 ở Hà Nội, bà Romedenne nói, lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam gần như đã đạt được cân bằng về giới, với tỷ lệ 92% các bé gái nhập học ở cấp tiểu học, tỷ lệ nữ giới trưởng thành biết đọc, biết viết đạt 86,9% (hơi thấp hơn so với tỷ lệ 93,9% nam giới trưởng thành biết đọc, biết viết). Chính phủ Việt Nam đã thể hiện những cam kết mạnh mẽ nhằm cải thiện sức khỏe bà mẹ trẻ em và chất lượng dân số thông qua việc thực hiện Chiến lược Dân số quốc gia giai đoạn 2001-2010, Chiến lược chăm sóc sức khỏe sinh sản (2001-2010) và chính sách chăm sóc y tế miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi. Bà cũng ghi nhận tỷ lệ mang thai và tỷ lệ tử vong bà mẹ và trẻ sơ sinh đang tiếp tục giảm xuống là những thành tựu quan trọng của Việt
|
đạo, thiếu kiên định trong tổ chức thực hiện chính sách DS-KHHGĐ. Tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác dân số thiếu ổn định, quá tải; cơ chế quản lý kém hiệu quả, điều hành chương trình lúng túng, chậm đổi mới; việc ban hành Pháp lệnh Dân số và một số chính sách khác thiếu chặt chẽ. Trong hoàn cảnh kinh tế nước ta chưa phát triển, tình trạng nghèo đói còn nhiều, tài nguyên thiên nhiên hạn hẹp, mật độ dân số vào hàng cao nhất thế giới... thì việc dân số tăng nhanh trở lại sẽ phá vỡ những thành quả đã đạt được, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, làm chậm quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đặt nước ta trước nguy cơ tụt hậu xa hơn. Điều cần thiết lúc này là tiếp tục quán triệt và kiên quyết thực hiện Nghị quyết 4 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII về chính sách DS-KHHGĐ; phấn đấu sớm đạt được mục tiêu về ổn định quy mô dân số, đồng thời từng bước nâng cao chất lượng dân số Việt Nam. Chủ trương mỗi cặp vợ chồng chỉ có một đến hai con để có điều kiện nuôi dạy tốt vẫn mang tính chất thời sự nóng bỏng. Nghị quyết số 47- NQ/TW ban hành ngày
Chiến lược dân số Việt Nam 2001-2010 đã chuyển hướng cách tiếp cận từ số lượng sang chất lượng với trọng tâm là giảm sinh và giải quyết những vấn đề dân số theo hướng rộng hơn, nó bao gồm về quy mô dân số, chất lượng dân số, phân bổ dân cư, sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới. Điều hòa quan hệ giữa việc duy trì số lượng với việc nâng cao chất lượng dân số, giữa phát triển dân số với phát triển nguồn nhân lực, giữa phân bố và di chuyển dân cư..., trong đó mỗi gia đình hạnh phúc, ấm no là tiền đề để xã hội ổn định và phồn vinh.
Nguyễn Thị Thúy
(TTXVN)

![[Video] Nhà Giao tế Lộc Ninh - Dấu ấn của những cuộc đấu trí ngoại giao đỉnh cao](/file/e7837c02876411cd0187645a2551379f/042026/z7732517837762_4049940b3202c81bddcbaef1c991bd9d_20260416185731.jpg?width=400&height=-&type=resize)











