
Năm 1380, tại dinh quan Tư đồ Trần Nguyên Đán ở Thăng Long đã ra đời một con người vĩ đại không những là cứu tinh của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XV mà còn làm vẻ vang mãi mãi cho dân tộc Việt Nam, đó là Nguyễn Trãi.
Năm 1380, tại dinh quan Tư đồ Trần Nguyên Đán ở Thăng Long đã ra đời một con người vĩ đại không những là cứu tinh của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XV mà còn làm vẻ vang mãi mãi cho dân tộc Việt Nam, đó là Nguyễn Trãi.
Thời niên thiếu, Nguyễn Trãi sống ở Thăng Long trong tư dinh ông ngoại và sau đó về sống với cha tại quê nội ở làng Nhị Khê, Thượng Phúc, Hà Tây (nay là Hà Nội).
Năm 1400, Nhà Hồ tổ chức thi tuyển để kén chọn nhân tài, Nguyễn Trãi ra thi và đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) khi vừa tròn 20 tuổi và được Hồ Quý Ly cử làm quan cùng cha là Nguyễn Phi Khanh tại triều đình. Năm 1406, trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược, cùng với vua và thượng hoàng Hồ Quý Ly, cha ông bị giặc bắt và đưa về Trung Quốc. Nghe tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em theo cha lên tận Ải Nam Quan với mong muốn để hầu hạ cha già lúc bị cầm tù nơi quê người đất khách; thế nhưng Nguyễn Trãi đã bừng tỉnh khi người cha nói với ông rằng: "Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, như thế mới là đại hiếu. Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao?".
Nghe lời cha, Nguyễn Trãi quay trở lại tìm con đường đánh giặc, cứu nước. Về đến Thăng Long, ông bị quân Minh bắt và tìm cách dụ dỗ, nhưng ông kiên quyết không theo giặc. Sau một thời gian bị giam lỏng ở Đông Quan (tức Thăng Long), Nguyễn Trãi vượt được vòng vây của giặc vào Thanh Hóa theo Lê Lợi và trao cho Lê Lợi bản chiến lược đánh đuổi quân Minh, chính là "Bình Ngô sách" nổi tiếng. Từ đây cho đến cuối cuộc đời, Nguyễn Trãi đã đem hết tài năng, tâm huyết của mình đóng góp vào công cuộc giải phóng đất nước cũng như xây dựng đất nước sau chiến tranh.
Trong chiến tranh, Nguyễn Trãi chủ trương phải dựa vào dân thì mới đánh thắng được giặc, có lẽ bài học thất nhân tâm của triều đại nhà Hồ đã ăn sâu vào trong tâm khảm của ông. Nguyễn Trãi chủ trương không đánh thành mà đánh vào lòng người - tâm công, ngày nay ta gọi là địch vận. Nguyễn Trãi thường tay không vào thành giặc và thảo thư để thuyết phục giặc, trước sau giúp nghĩa quân thu hồi 13 trong 15 thành không phải dùng vũ lực.
Nguyễn Trãi suốt đời gắn bó với nhân dân, ở ông, Tổ quốc và nhân dân là một. Nguyễn Trãi cho rằng yêu nước là phải yêu những người lao động. Nguyễn Trãi không chỉ có tình cảm sâu sắc với nhân dân mà ông còn nhận thức được sức mạnh to lớn của nhân dân. Sức mạnh của nhân dân như sức mạnh của nước, nước đẩy thuyền đi nhưng nước cũng có thể lật thuyền "Phúc chu thủy tín dân do thủy" (lật thuyền nay mới tin là dân có sức mạnh như nước). Với Nguyễn Trãi và đến Nguyễn Trãi, nhân dân đã trở thành đối tượng để khâm phục, để ngợi ca chứ không mang hàm ý thương xót, ra ơn. Tư tưởng "thân dân" ấy đã hình thành nơi Nguyễn Trãi đường lối cứu nước dựa vào dân. Muốn giải phóng đất nước phải đuổi giặc cứu dân, tạo cho dân có đời sống, giác ngộ nhân dân, tổ chức nhân dân thành lực lượng, xây dựng căn cứ, xây dựng chính quyền, thành lập quân đội; trong hòa bình, khi đất nước được giải phóng càng phải quan tâm hơn đến đời sống nhân dân.
Năm 1437, khi vua Lê Thái Tông cử ông định ra lễ nhạc, ông đã tâu vua: "Dám mong bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân khiến cho trong thôn cùng xóm vắng, không có một tiếng hờn giận oán sầu. Đó tức là giữ được gốc của nhạc vậy". Tấm lòng ông luôn canh cánh tâm niệm một điều vì nhân dân, ông quan niệm phải luôn lo trước điều thiên hạ lo, vui sau cái vui của thiên hạ. Cũng bởi yêu thương nhân dân, tôn trọng và biết ơn nhân dân nên khi đã làm quan rất lớn của triều đình, Nguyễn Trãi lúc nào cũng sống cuộc sống giản dị, cần kiệm liêm chính.
Không những là một nhà chính trị tài ba, Nguyễn Trãi còn là một nhà tư tưởng, nhà văn hóa lỗi lạc để lại cho đời nhiều tác phẩm vô giá. Ông là một nhà giáo dục có tài với những tư tưởng vượt trước thời đại về vai trò của giáo dục và quan điểm dùng người hiền tài. Chính Nguyễn Trãi là người đã thay Thái Tổ (Lê Lợi) soạn lời giáo huấn để dạy Thái tử và răn dạy các quan. Trong chiếu "Cấm các quan tham lam, lười biếng" Nguyễn Trãi đã viết: "Phàm người có chức vụ coi quan, trị dân đều phải dùng phép công bằng,... bỏ thói tham ô, trừ tệ lười biếng;... coi việc quốc gia làm công việc của mình, lấy điều lo của dân làm điều lo chính của mình".
Năm 1464, 22 năm sau ngày Nguyễn Trãi mất vì thảm án oan khuất nhất của lịch sử, vua Lê Thánh Tông đã xuống chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi, cho sưu tầm trước tác của ông và cho tìm con cháu ông bổ dụng làm quan với lời ca tụng "Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo" (Tấm lòng Ức Trai - tên hiệu của Nguyễn Trãi sáng như sao Khuê).
Tài năng, đức độ và những cống hiến của Nguyễn Trãi với triều đại và dân tộc mãi mãi được nhân dân ghi ơn. Nhiều nơi trên đất nước ta, nhân dân đều thờ Nguyễn Trãi. Ở Hà Nội, Nguyễn Trãi được liệt vào hàng bách thần của đất Thăng Long. Năm 1980, nhân kỷ niệm 600 năm Ngày sinh Nguyễn Trãi, Tổ chức giáo dục, văn hóa và khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO) đã suy tôn Nguyễn Trãi là Danh nhân văn hóa thế giới.
Vũ Trung Kiên















