Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Xác lập vai trò nào cho đô thị Biên Hòa trong vùng TP. Hồ Chí Minh?

10:04, 02/04/2007

PGS.TS Nguyễn Minh Hòa, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu phát triển đô thị và cộng đồng (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.Hồ Chí Minh) cho rằng, Biên Hòa cần phát triển thành thành phố công nghiệp và các loại dịch vụ phục vụ công nghiệp. Thế nhưng, theo ông, TP.Biên Hòa và tỉnh Đồng Nai cũng đang phải đối mặt với thách thức là phát triển công nghiệp tập trung hay phân tán về các huyện. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông xung quanh vấn đề này nhân hội thảo bàn về quy hoạch, kiến trúc đô thị vùng phát triển công nghiệp vừa diễn ra tại Biên Hòa.

PGS.TS Nguyễn Minh Hòa, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu phát triển đô thị và cộng đồng (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.Hồ Chí Minh) cho rằng, Biên Hòa cần phát triển thành thành phố công nghiệp và các loại dịch vụ phục vụ công nghiệp. Thế nhưng, theo ông, TP.Biên Hòa và tỉnh Đồng Nai cũng đang phải đối mặt với thách thức là phát triển công nghiệp tập trung hay phân tán về các huyện. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông xung quanh vấn đề này nhân hội thảo bàn về quy hoạch, kiến trúc đô thị vùng phát triển công nghiệp vừa diễn ra tại Biên Hòa.

 

* P.V: Ông có ý kiến đánh giá như thế nào về vị trí của đô thị TP.Biên Hòa hiện nay khi nhìn trên tổng thể các đô thị vùng TP.Hồ Chí Minh?

 

-PGS.TS Nguyễn Minh Hòa: TP.Biên Hòa có vị trí cực kỳ quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Nhìn lại cả khu vực phía Nam, chỉ riêng có Biên Hòa được coi là thành phố công nghiệp. Còn TP.Hồ Chí Minh là thành phố đa chức năng. Về giao thông, Biên Hòa nằm ở vị trí tâm điểm giao cắt của các đường giao thông quan trọng. Tương quan với các đô thị trong vùng như TP.Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Phan Thiết, Thủ Dầu Một..., Biên Hòa cũng nằm ở vị trí tâm điểm. Nếu vùng kinh tế trọng điểm chỉ có 7 tỉnh và 1 thành phố thì khái niệm vùng đô thị lại mang tính kết nối các đô thị lại với nhau. Trong cả hai khái niệm này, TP.Biên Hòa đóng vai trò quan trọng. Trong tương lai, tôi tin Biên Hòa sẽ được nâng cấp lên thành đô thị loại I. Tôi nghĩ vào năm 2020, dân số Biên Hòa có thể lên đến 700 - 800 ngàn. Biên Hòa và TP.Hồ Chí Minh gần như hợp thành một, do nằm quá gần nhau. TP.Hồ Chí Minh có ảnh hưởng đến Biên Hòa nhưng là ảnh hưởng tương hỗ.

 

* Trước nay Biên Hòa vẫn sống chủ yếu bằng những giá trị công nghiệp. Theo ông thì Biên Hòa cần và nên xác lập cho mình vai trò như thế nào trong tổng thể các đô thị của vùng trọng điểm kinh tế?

 

- Có hai loại đô thị, gồm đô thị đơn chức năng và đô thị đa chức năng. Theo tôi, Biên Hòa chỉ nên phát triển là một thành phố công nghiệp và dịch vụ. Nhưng dịch vụ đó chỉ nên là các loại dịch vụ trung bình và phổ thông, phục vụ cho công nghiệp. Không tập trung phát triển nhiều vào các loại dịch vụ cao cấp vì dịch vụ cao cấp phải đổ vốn đầu tư rất nhiều, trong khi tỷ lệ thu hồi vốn đầu tư rất thấp. Bởi vì, khoảng cách từ Biên Hòa hiện nay xuống đến TP.Vũng Tàu hay TP.Hồ Chí Minh cũng đều quá gần. Người ta sẽ tiêu thụ những dịch vụ cao cấp tại những nơi này. Biên Hòa và Đồng Nai cũng đang đối mặt với một thách thức là nên phát triển các KCN tập trung hay các KCN phân tán. Nếu phát triển công nghiệp tập trung, tức đặt các KCN gần nhau, sẽ phải giải các bài toán về nhà ở cho công nhân, sự đồng bộ của cơ sở hạ tầng... Nếu phát triển các KCN phân tán, tức đưa về các huyện, sẽ giảm được những chi phí trong đầu tư hạ tầng kỹ thuật, thế nhưng lại phải đối mặt với các vấn đề về môi trường, nông dân mất đất sản xuất... Tôi cho rằng, muốn trả lời được những câu hỏi này, cần phải có khảo sát, nghiên cứu thật kỹ để từ đó có câu trả lời cho lựa chọn phát triển công nghiệp tập trung hay phân tán. Hai hình thái phát triển công nghiệp này sẽ dẫn tới hai cách thức tổ chức đô thị khác nhau, hai loại hình KCN khác nhau, thậm chí là hai loại lối sống khác nhau.

Ngoài ra, Biên Hòa còn có thể chia sẻ được với TP.Hồ Chí Minh, vì tới đây thành phố này sẽ tập trung vào ngành công nghệ kỹ thuật cao. Còn với những nhà máy có công nghệ trung bình, sử dụng nhiều lao động, cần mặt bằng lớn, thì khả năng sẽ phân tán về các tỉnh và Biên Hòa sẽ hứng những nhà máy dạng này. Cũng có thể TP.Biên Hòa sẽ đặt ra mục tiêu thu hút những nhà máy công nghệ cao nhưng đẩy các nhà máy có công nghệ trung bình về các huyện hay các tỉnh khác cũng sẽ là rất khó. Công nghệ cao là rất tốt, nhưng lại không giải quyết được việc làm. Trong từ 20 - 30 năm nữa, Đồng Nai vẫn phải là địa phương giải quyết việc làm cho lực lượng lao động bằng các nhà máy có công nghệ trung bình, cần đông nhân công và diện tích lớn.

 

* Trong thời gian qua, sự phát triển công nghiệp quá nóng, tạo ra việc làm cho hàng ngàn lao động nhưng đồng thời cũng khiến nhiều đô thị trong vùng, trong đó có Biên Hòa phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội. Theo ông, đâu là căn cơ trong việc giải quyết những vấn đề này?

 

- Tôi cho rằng, để giải quyết được những vấn đề này, cần phải luật hóa nó để những chính sách được thực thi. Chúng ta không nên kêu gọi sự từ thiện ở đây. Kêu gọi các doanh nghiệp sắp xếp nhà ở cho công nhân là vô nghĩa, vì điều họ cần là bỏ ra tối thiểu nhưng lợi nhuận tối đa. Những vấn đề này phải được luật hóa trong các điều kiện về đầu tư. Chẳng hạn như, đầu tư trên tổng diện tích bao nhiêu thì phải trích phần trăm diện tích tương ứng để làm nhà, giải quyết các vấn đề về đời sống, tinh thần...

 

* Trên bình diện rộng hơn, ông có đề xuất  giải pháp nào cho cơ chế liên kết giữa các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nhằm chấm dứt tình trạng phát triển theo kiểu mạnh ai nấy làm như hiện nay?

 

- Cần phải thấy rằng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam hiện chỉ đơn giản là một cái tên do Chính phủ định ra trong chiến lược, chứ chưa có một thiết chế cứng và một bộ máy nào để điều hành nó. Chính vì vậy, mạnh địa phương nào địa phương đó phát triển. Tôi cho rằng, chúng ta cần có một hội đồng điều phối. Hội đồng này có thể do một Phó Thủ tướng nắm, hoặc một thành phố lớn làm chủ tịch. Hội đồng phải làm thế nào để các địa phương liên kết được với nhau về mặt thông tin, chia sẻ thông tin. Trong trường hợp cần thiết, có thể huy động nhân sự và vốn đầu tư để giải quyết những vấn đề chung. Ví dụ như việc làm một con đường giáp ranh, đi qua nhiều tỉnh thì phải ngồi lại với nhau để bàn bạc. Hoặc tránh được tình trạng là địa phương này có nhà máy thép thì địa phương khác cũng có nhà máy thép; anh có nhà máy dệt, tôi cũng có nhà máy dệt... Cuối cùng, cạnh tranh nhau một cách không lành mạnh, đồng loạt giảm giá thuê đất để thu hút đầu tư.

Nếu chúng ta thành lập Hội đồng quản lý đô thị, ít nhất là cho các đô thị từ 100 ngàn dân trở lên. Hội đồng này có thể không có thiết chế cứng, tức có bộ máy, cán bộ được trả lương nhưng cũng có thể có các thiết chế mềm, tức tạo cơ chế để các địa phương gặp gỡ nhau trao đổi thông tin và giải quyết những vấn đề chung. Tôi cho rằng, thành lập ra một cơ chế cứng là không nên. Ví dụ, ở Philippines có hội đồng thị trưởng, chủ tịch hội đồng được đổi luân phiên hàng năm. Trong hội đồng, các thị trưởng ngồi lại với nhau chia sẻ thông tin, chia sẻ nguồn lực để tránh phải cạnh tranh với nhau hay giải quyết những dự án đi qua nhiều vùng. Nếu chúng ta cũng có cơ chế như thế này sẽ giải quyết được nhiều vấn đề. Chẳng hạn như luồng di chuyển công nhân tự phát hiện nay, giảm bớt những thất thoát không cần thiết.

Minh Chánh (thực hiện)

 

Tin xem nhiều