Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Kỷ niệm 33 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 30-4-2008)
Ký ức 30 tháng 4

10:04, 28/04/2008

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, hy sinh của dân tộc ta đến ngày toàn thắng 30-4-1975. 33 năm đã trôi qua, nhưng mỗi khi nhắc lại giây phút lịch sử ấy, các cựu chiến binh, những người góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại ấy đã không giấu được niềm tự hào, xúc động...

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, hy sinh của dân tộc ta đến ngày toàn thắng 30-4-1975. 33 năm đã trôi qua, nhưng mỗi khi nhắc lại giây phút lịch sử ấy, các cựu chiến binh, những người góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại ấy đã không giấu được niềm tự hào, xúc động...

 

* CỰU CHIẾN BINH NGUYỄN VĂN HỒNG, nguyên cán bộ Ban thông tin, Phòng tham mưu Quân khu 7:

 

Trong những ngày tháng 4-1975, đơn vị chúng tôi đóng quân ở rừng chiến khu Đ làm nhiệm vụ phục vụ công tác thông tin, liên lạc cho Bộ Tham mưu Quân khu và sửa chữa máy móc, thiết bị thông tin cho các đơn vị quân giải phóng để đáp ứng tốt cho yêu cầu chỉ huy chiến dịch. Lúc ấy, chiến trường đang đến hồi quyết liệt nên anh em chúng tôi phải làm ngày, đêm mới đáp ứng được việc khắc phục, sửa chữa các máy móc, thiết bị thông tin bị hỏng hóc từ tuyến trước đưa về. Do được phục vụ cạnh các tướng lĩnh, sĩ quan chỉ huy trong bộ tham mưu, nên khi nghe được các cuộc điện đàm chỉ huy chiến trường của cấp lãnh đạo, tôi có cảm giác vui mừng, sung sướng vì đoán được rằng chiến thắng đã gần kề. Ngày 21-4-1975, khi đại quân của ta đập tan tuyến phòng thủ Xuân Lộc, đơn vị chúng tôi nhận lệnh rời chiến khu Đ, gấp rút hành quân ra quốc lộ 20 (vùng Kiệm Tân). Từ đây, chúng tôi lại hòa vào các cánh quân thần tốc tiến về Biên Hòa. Trên suốt chặng đường gần 50km đến Biên Hòa, các cánh quân của ta tiến như vũ bão mà không gặp sự kháng cự nào đáng kể. Khi đại quân vào Biên Hòa, bọn địch đã hoàn toàn tan rã, tháo chạy, quân trang, vũ khí vất bỏ ngổn ngang trên đường. Lúc này trên đường phố rất nhiều người dân đã ùa ra đường đón chào quân giải phóng. Trong số đó cũng có không ít người vì tò mò ra xem "Việt cộng" ra sao... Khi thấy bộ đội ai cũng khỏe mạnh, hiền lành, lễ phép không giống như kiểu tuyên truyền xuyên tạc của Mỹ - ngụy nên nhiều bà con từ chỗ e dè, lo sợ đã ôm chầm lấy anh em chúng tôi mà nước mắt cứ tuôn trào.

 

* ĐẠI TÁ PHÙNG DUY TƯỜNG, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh TP.Biên Hòa, nguyên Đại đội trưởng trinh sát biệt động Biên Hòa:

 

Khi mở chiến dịch Hồ Chí Minh, đơn vị chúng tôi được cấp trên giao nhiệm vụ ém quân chờ thời cơ phối hợp với bộ đội chủ lực tiến công tiêu diệt địch ở Biên Hòa và chiếm giữ các mục tiêu đã được định trước. Ngày 21-4-1975, tuyến phòng thủ của địch ở Xuân Lộc bị quân ta chọc thủng. Xuân Lộc mất, thị xã Biên Hòa trở thành tuyến phòng ngự chủ yếu sau cùng của địch ở hướng Đông. Do vậy, địch đã tập trung rất nhiều lực lượng dựa vào đây ra sức kháng cự, ngăn chặn quân ta tiến vào Sài Gòn. Do vậy, để đánh chiếm Biên Hòa, Bộ Tư lệnh Miền và Quân khu đã bố trí một lực lượng lớn của Quân đoàn 4 phối hợp với quân dân Biên Hòa tiêu diệt địch tại đây. Sau nhiều ngày giằng co ác liệt, bọn địch bị bộ đội chủ lực và quân dân Biên Hòa bao vây, chia cắt, tiêu diệt; nhiều mục tiêu quan trọng của địch như: sân bay Biên Hòa, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy, Nha cảnh sát miền Đông, Ty cảnh sát Biên Hòa v.v... lần lượt bị đánh chiếm nên địch tan rã, bỏ chạy. Sáng ngày 30-4-1975, thị xã Biên Hòa hoàn toàn giải phóng. Trong giờ phút thiêng liêng ấy, những người lính chúng tôi vui mừng đến trào nước mắt và tiếp tục nắm chặt tay súng làm nhiệm vụ quân quản bảo vệ trật tự trị an, lùng bắt tàn quân, bọn ác ôn, thu gom vũ khí, bảo vệ tốt các mục tiêu như nhà máy nước, nhà máy điện, đảm bảo việc cung cấp điện, nước bình thường cho thành phố ngay sau khi được giải phóng.

 

* CỰU CHIẾN BINH VŨ ĐỨC NINH, nguyên chiến sĩ đại đội 1, tiểu đoàn 23, Trung đoàn đặc công 113:

 

Khi các cánh quân của ta từ các hướng ồ ạt tiến về Sài Gòn thì đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ hành quân từ Bình Trị, Tân Uyên cấp tốc về Biên Hòa để chiếm giữ cầu Gành và cầu Mới (Hóa An), không cho địch trong lúc tháo chạy phá hỏng cầu để ngăn sức tấn công của bộ đội ta. 4 giờ 30 sáng ngày 27-4-1975, đơn vị chúng tôi đã bí mật chiếm giữ được 2 đầu cầu. Lúc này ở Biên Hòa, mặc dù quân địch hết sức hoảng loạn, nhưng khi phát hiện ra các chốt của chúng tôi, địch điều động quân có xe tăng và máy bay yểm trợ từ 2 hướng Biên Hòa, Dĩ An đánh dữ dội vào trận địa. Cuộc chiến đấu không cân sức giữa các chiến sĩ đặc công và lính ngụy đang trong cơn hấp hối diễn ra hết sức quyết liệt. Sau 2 ngày đêm chiến đấu, mặc dù lực lượng giữ chốt bị tiêu hao khá lớn nhưng bọn địch không thể phá vỡ được trận địa của chúng tôi. Sáng ngày 29-4, cấp trên gấp rút bổ sung cho đơn vị một số tay súng để tiếp tục giữ chốt. Khoảng 11 giờ trưa ngày 29-4, sức tấn công của địch vào trận địa chốt của ta bỗng dưng yếu hẳn. Tiếng súng tạm thời lắng xuống. Tranh thủ khoảnh khắc hiếm hoi đó, chúng tôi gấp rút củng cố lại công sự để tiếp tục chuẩn bị cho trận đánh. Thế nhưng điều bất ngờ đã xảy ra khi chúng tôi phát hiện quân địch bên trong các xe tăng đang tham chiến bật tung nóc pháo nhảy ra khỏi xe, cởi bỏ quần áo, mạnh tên nào tên ấy chạy. Thì ra bọn địch đã phát hiện xe tăng quân giải phóng và bộ đội chủ lực của ta đang truy kích địch phía bên kia đầu cầu hướng nội ô thị xã Biên Hòa. Trong giây phút đó, niềm vui rạng rỡ hiện lên trên những gương mặt hốc hác, bám đầy bụi đất, thuốc súng của anh em chúng tôi. Như vậy là thị xã Biên Hòa đã được giải phóng. Gạt nước mắt chôn cất những đồng đội đã ngã xuống trước giờ toàn thắng, những người lính sống sót sau trận đánh như chúng tôi mới thấm thía nỗi đau mất mát, hy sinh. Để giữ được 2 cây cầu nêu trên, 53 chiến sĩ của Trung đoàn 113 đặc công vĩnh viễn nằm trong lòng đất mẹ...

 

* THƯỢNG TÁ PHẠM HẠNH PHÚC, Anh hùng LLVT nhân dân, nguyên chiến sĩ tiểu đoàn 6 đặc công rừng Sác:

 

Vào những ngày tháng 4-1975, đơn vị chúng tôi nhận lệnh phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích và lực lượng chủ lực của Quân đoàn 2, Quân đoàn 4 đánh địch từ hướng quận lỵ Long Thành, Nhơn Trạch ra Phước Thiền để đưa 4 khẩu pháo của ta vào đồi Phú Hội bắn vào khống chế sân bay Tân Sơn Nhất, kho xăng Nhà Bè, kho đạn Thành Tuy Hạ. Riêng trung đội trinh sát của tôi đánh vào trường biệt kích, tăng thiết giáp ngụy ở ngã ba Thái Lan rồi phát triển vào quận Đức Tu, Tam Hiệp, Biên Hòa để phối hợp với bộ đội chủ lực Quân đoàn 2, Quân đoàn 4 đánh chiếm Tổng kho Long Bình, Quân đoàn 3 ngụy, sân bay Biên Hòa... Trên các hướng tiến công, trước sức tấn công như vũ bão của quân giải phóng, các mục tiêu, cứ điểm của địch lần lượt bị ta đánh chiếm, bọn địch tan rã chạy như bầy ong vỡ tổ. Sáng ngày 30-4-1975, các cánh quân phối hợp đã dồn về nội ô thị xã Biên Hòa, đến trưa ngày 30-4 thì nghe Dương Văn Minh, Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước quân giải phóng. Trong giờ phút lịch sử ấy, chúng tôi - những người lính còn sống sau cuộc chiến càng dâng trào bấy nhiêu trước sự hy sinh, mất mát quá lớn của biết bao đồng đội, đồng bào, những người con khắp mọi miền Tổ quốc. Máu xương của họ là giá trị của độc lập, tự do, là sự hy sinh cho Đảng, cho dân mà những người còn sống, người đi sau phải có trách nhiệm hoàn ân giá trị máu xương ấy...

Đức Việt (ghi)

 

Tin xem nhiều