Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Đại đội Lam Sơn (27-3-1948 - 27-3-2008)
Bí thư chi bộ Đại đội Lam Sơn ngày ấy

10:03, 26/03/2008

Ở trong hẻm 134 trên đường Cách mạng tháng Tám thuộc khu vực Cây Chàm, khu phố 3, phường Quang Vinh (TP.Biên Hòa) có một ông già đã 79 tuổi với dáng dấp nhỏ thó nhưng còn tỏ ra nhanh nhẹn và khá tinh anh. Ông là Dương Văn Hên, nguyên Bí thư chi bộ Đại đội Lam Sơn.

Ông Tư Hên.
Ở trong hẻm 134 trên đường Cách mạng tháng Tám thuộc khu vực Cây Chàm, khu phố 3, phường Quang Vinh (TP.Biên Hòa) có một ông già đã 79 tuổi với dáng dấp nhỏ thó nhưng còn tỏ ra nhanh nhẹn và khá tinh anh. Ông là Dương Văn Hên, nguyên Bí thư chi bộ Đại đội Lam Sơn.

 

* Con trai quan phủ đi làm... Việt Minh!

 

Ông Tư Hên (tên thật là Dương Văn Hên, khi tham gia kháng chiến ghép tên của người bạn thiết thân mình là Nguyễn Anh Minh thành Dương Minh Hên, sau đó kết nạp Đảng lấy bí danh là Dương Minh) có một thân thế khá là đặc biệt.

Ông sinh năm 1929 tại làng Bến Gỗ, tỉnh Biên Hòa và là con trai thứ tư của quan phủ Dương Văn Hưng (sau đó được Pháp bổ nhiệm làm quận trưởng Châu Thành, tỉnh Biên Hòa) và là cháu ngoại của ông Hội đồng Long (Nguyễn Văn Long), người tiếng tăm ở vùng Bến Gỗ, Biên Hòa. Học tiểu học ở trường Nguyễn Du, sau đó trò Hên lên Sài Gòn học Pétrus Ký. Bà phủ (Nguyễn Thị Khá) mẹ của Tư Hên là chị em bạn dì với vợ của đốc phủ sứ Đỗ Cao Lụa - một "đại gia" giàu có nức tiếng lúc bấy giờ ở tỉnh Biên Hòa, ba của tướng ngụy Đỗ Cao Trí - tư lệnh quân đoàn III. Thế nhưng Tư Hên lại không mấy thân thiện với Đỗ Cao Trí. Khi lên Sài Gòn, trò Hên cố gắng học giỏi, kết thân nhiều bạn bè, Hên gia nhập vào câu lạc bộ học sinh (Scholar Club) trong hội SAMIPIC do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát thành lập. Tiếp đó là tham gia đoàn SET (Section dexcursion et de tourisme - Ban du ngoạn và du lịch)  của Tổng hội sinh viên Đông Dương cùng với Trịnh Kim Ảnh, Nguyễn Văn Ảnh... và được giới thiệu vào Thanh niên Tiền Phong của thủ lĩnh Phạm Ngọc Thạch... Ông phủ Hưng biết đứa con trai 15 tuổi của mình đã bắt đầu giao du với các phần tử có liên can với "Việt Minh" đã kêu về Biên Hòa đặt vấn đề cho sang Pháp du học, nhưng Hên từ chối. Còn bà Năm Khá (mẹ Hên) thì lại rất ủng hộ việc cậu con trai tham gia Thanh niên Tiền Phong.

Sau khi quân Pháp trở lại gây hấn. Mặt trận Thị Nghè và cầu Băng Ký -Gia Định đều vỡ, một bộ phận Thanh niên Tiền Phong rút về Biên Hòa, ủy viên quân sự Huỳnh Văn Nghệ giao cho Tư Hên việc thu thập tin tức của một số công chức tay sai Pháp ở mấy cư xá trong nội thị xã Biên Hòa. Một thời gian sau, Tư Hên được chọn học Trường sơ cấp quân chính ở ngay Bến Gỗ. Mới  16 tuổi, Tư Hên lại được bầu làm tiểu đội trưởng. Cùng 7 thiếu niên liên lạc ở khoảng tuổi 11 -12, Tư Hên đi khắp các trận địa Long Điềm, Bàu Cá, Trảng Bom, Đất Cuốc...

Sau đó, Tư Hên còn được cử đi học Trường quân chính Huỳnh Thúc Kháng để được đào tạo thành cán bộ chỉ huy. Ông Tư Hên nhớ lại: "Trước ngày đi, tôi ý thức đây là bước ngoặt quan trọng trong đời nên có về gặp mẹ tôi. Tôi hứa với bà: "Con đi là đi luôn, đi đến cuối cùng mới về!". Từ bữa chia tay đó, mãi đến đến mùa xuân 1975, Tư Hên mới gặp lại mẹ, tính ra ròng rã gần 30 năm. Ông nhớ lại là lúc đó ông ôm lấy bà phủ Hưng và nói: "Con về nè má ơi! Con đã đi trọn vẹn như lời má dặn!".

 

* Những kỷ niệm khó quên

 

Ông Tư Hên cho là chuyện kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương của ông vào tháng 5 năm 1948, cũng bình thường như mấy trường hợp khác trong thời kháng chiến. Đó là đối tượng được chọn phải được thử thách để tỏ rõ bản chất bộ đội Cụ Hồ là "đánh giặc sao coi được!", do đó sau khi đọc điều lệ Đảng ông được cử đi đánh bót Đất Cuốc với nhiệm vụ là chạy vô bót ném lựu đạn. Kết quả sau đó được thẩm tra công bố và tổ chức kết nạp. Nhờ gan dạ, mưu trí đánh giặc, Tư Hên từng bước trở thành chính trị viên trung đội rồi trở thành chính trị viên Phó đại đội, bí thư chi bộ Đảng Đại đội Lam Sơn. Xác định công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ phải đặt  lên hàng đầu, nhất là trong tình hình kháng chiến gian khổ, Bí thư chi bộ Dương Minh đã góp phần từng bước đưa số đảng viên trong Đại đội Lam Sơn từ 12 đồng chí lên đến trên 50 đồng chí, hạn chế thấp nhất tình trạng chiến sĩ đào ngũ hoặc đầu hàng giặc do bị mua chuộc, dụ dỗ.

Hai kỷ niệm mà Bí thư Dương Minh Hên nhớ hoài là lần đánh trận xong trở về căn cứ Bình Đa gặp mưa lớn, cán bộ, chiến sĩ đều ướt như chuột lột. Mọi người cởi quần áo ra giăng võng phơi. Do mỗi người chỉ có một bộ đồ nên ai cũng ở truồng lổng nhổng. Chỉ có "cậu Tư" là nhờ có thêm cái quần xà lỏn nên tỏ ra khá ung dung. Bất ngờ có một đoàn các mẹ, chị chiến sĩ nghe tin bộ đội đánh giặc thắng lớn mang quà bánh, thức ăn đến ủy lạo. Tư Hên đớ lưỡi chạy ra, khoát tay và chỉ xuống dưới bụng. Mấy bà mẹ ngơ ngác: "Sao vậy Tư? Có chuyện gì mà mày không cho tao vô!" Chừng Tư Hên bình tĩnh kể lại, mấy má cười rơi cả nước mắt vì tình cảnh thiếu thốn của bộ đội Lam Sơn.

Sau trận lụt năm Thìn, cả dân và bộ đội vùng giải phóng, căn cứ kháng chiến đều đói do quân Pháp phong tỏa nghiêm ngặt. Hàng tháng trời cả đại đội chỉ ăn toàn lá rừng và khổ nhất là thiếu muối làm mọi cán bộ, chiến sĩ đều sưng vù tay chân. Một hôm, Đại đội trưởng Lưu Công Hưng cùng Bí thư Dương Minh Hên kéo nhau về gặp Tỉnh đội trưởng Huỳnh Văn Nghệ để... báo cáo tình hình, nhưng kỳ thực là để kiếm một bữa ăn. Làm việc đến trưa, bà Tám Nghệ dọn ra một mâm củ chuối xắt lát. Mâm kế bên mấy đứa con của ông  Tám Nghệ cũng ăn chuối xắt lát. Đại đội trưởng Lưu Công Hưng ứa nước mắt: "Lẽ ra tụi này phải kiếm gạo chu cấp cho Tỉnh đội!". Đồng chí Tám Nghệ lúc ấy mới chỉ cho Đại đội Lam Sơn con đường thoát đói là mở khẩu trên các tuyến đường giao thông. Ý kiến này của Tám Nghệ đã giúp cho Đại đội Lam Sơn  tìm ra được hướng thoát đói và nhanh chóng vươn lên đánh giặc nhiều trận tơi bời.

 

Đại đội Lam Sơn - ra đời từ nhân dân và vì nhân dân mà chiến đấu

Được thành lập vào ngày 27-3-1948, đại đội Lam Sơn là một đơn vị vũ trang từ nhân dân mà ra, hình thành và lớn lên từ những đội dân quân, du kích, từ những tổ chức tiền thân là Trung đội 5, Đại đội B (Biên Hòa) và Trung đội 8, Đại đội C (Long Thành). Trong suốt 9 năm trường kỳ kháng chiến, Đại đội Lam Sơn đã gánh vác trọng trách nặng nề vì đứng chân hoạt động ở địa bàn chiến lược bao gồm khu vực Biên Hòa, giáp ranh Sài Gòn, Vĩnh Cửu, Long Thành. Đây là chiến trường ác liệt, đại đội vừa phải đánh địch, vừa phải bảo vệ chiến khu Bình Đa, bảo vệ đường giao thông chiến lược từ chiến khu Đ về Biên Hòa - Long Thành.

Từ lực lượng nòng cốt ban đầu là các thanh niên yêu nước ở các làng xã, sinh viên học sinh ở các trường học, công nhân cao su, thợ máy, đồng bào dân tộc... về sau Đại đội Lam Sơn được bổ sung những đơn vị bộ đội Đô Lương, Bắc Sơn, La Nha, bộ đội địa phương Lê Hồng Phong. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, Đại đội Lam Sơn đã góp phần làm nên những chiến thắng có ý nghĩa lịch sử như các trận đánh: Bàu Cá, Phước Cang, Long Điềm, Trảng Bom, Đại An, Giang Rế... Đại đội Lam Sơn được hình thành, phát triển và tồn tại đến kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Kết quả hoạt động của đại đội Lam Sơn đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của quân và dân miền Đông Nam bộ, của quân và dân cả nước trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Đơn vị đã liên tục bám trụ chiến đấu, gắn bó với phong trào chiến tranh nhân dân, lập nhiều thành tích xuất sắc trên các mặt trận phục vụ kháng chiến.

P.V

Bùi Thuận

 

 

 

 

Tin xem nhiều