Hầu hết ở những cánh rừng bị chặt phá nham nhở, thường chỉ còn lại trơ trụi những cây cầy với tàng lá xanh um. Nhiều dân làm rừng ở Mã Đà, Vĩnh An từng cho tôi biết: "Thợ rừng chê cây cầy vì gỗ loại cây này giá trị không cao mà lại rất khó cưa, xẻ cũng như đốn hạ". Già làng Năm Nổi, ông Út Nghị - người dân tộc Chơ Ro - cán bộ cựu trào ở vùng Lý Lịch - Bù Cháp thì cho rằng: "Cây này ở Chiến khu Đ rất lạ là mỗi khi Mỹ rải chất độc hóa học thì các loại cây rừng khác đều trụi lá rồi chết rũ, ngoại trừ cây cầy".
Hầu hết ở những cánh rừng bị chặt phá nham nhở, thường chỉ còn lại trơ trụi những cây cầy với tàng lá xanh um. Nhiều dân làm rừng ở Mã Đà, Vĩnh An từng cho tôi biết: "Thợ rừng chê cây cầy vì gỗ loại cây này giá trị không cao mà lại rất khó cưa, xẻ cũng như đốn hạ". Già làng Năm Nổi, ông Út Nghị - người dân tộc Chơ Ro - cán bộ cựu trào ở vùng Lý Lịch - Bù Cháp thì cho rằng: "Cây này ở Chiến khu Đ rất lạ là mỗi khi Mỹ rải chất độc hóa học thì các loại cây rừng khác đều trụi lá rồi chết rũ, ngoại trừ cây cầy".
Cây cầy có tên khoa học là Irvingia Malaya Na Olin.Exbenn, còn được biết tới với tên
Chính hạt của trái cầy mới là vấn đề đáng nói. Các ông Năm Nổi, Út Nghị, Nguyễn Đình Biên, cùng những người sống lâu ở vùng rừng núi Chiến khu Đ đều cho rằng: Trái cầy có cơm (thịt) vàng nhạt, hấp dẫn heo rừng nhưng ta ăn có vị chát chát, nên không cần phải đi hái, đợi đến mùa trái cầy rụng xuống gốc cây thúi đi, ta mới tập trung lượm hột rồi chẻ ra rang ăn rất ngon. Món hột cầy rang thơm lừng, ăn béo ngậy, không thua kém gì đậu phộng, hột điều rang bơ.
Rừng Chiến khu Đ có những cây cầy to đến 3 - 4 người ôm, mỗi mùa trái rụng nếu biết bảo vệ (không cho heo rừng đến ăn) có thể thu hoạch từ 1-2 tạ hột. Nguồn hột cầy khô dự trữ này để dành chế biến thành món hột cầy rang muối là thức ăn với cơm rất hấp dẫn. Còn làm món ăn chơi để đãi khách thì ai một lần ăn sẽ khó mà quên được món hột cầy rang của vùng đất Chiến khu Đ.
Bùi Thuận













