
Nước thải ô nhiễm do sản xuất đang đe dọa môi trường, đặc biệt là môi trường nước sông Đồng Nai. Nhiều khu công nghiệp (KCN) chưa có nhà máy xử lý nước thải tập trung nhưng đã kêu gọi đầu tư; nhiều nhà máy không có hệ thống xử lý nước thải cục bộ vẫn đang hoạt động. Đã đến lúc không thể kéo dài tình trạng này...
![]() |
| Nước thải của một nhà máy dệt nhuộm từng gây ô nhiễm đất nông nghiệp tại 2 xã Phước Tân và Tam Phước (huyện Long Thành). |
Nước thải ô nhiễm do sản xuất đang đe dọa môi trường, đặc biệt là môi trường nước sông Đồng Nai. Nhiều khu công nghiệp (KCN) chưa có nhà máy xử lý nước thải tập trung nhưng đã kêu gọi đầu tư; nhiều nhà máy không có hệ thống xử lý nước thải cục bộ vẫn đang hoạt động. Đã đến lúc không thể kéo dài tình trạng này...
* Phần lớn nước thải công nghiệp đều chưa qua xử lý
Ở Đồng Nai hiện có 17 KCN đang hoạt động nhưng mới chỉ có 3 KCN có nhà máy xử lý nước thải tập trung (XLNTTT). Đó là các KCN Biên Hòa 2, Amata và Loteco. Còn trong hơn 1.000 doanh nghiệp đứng chân trên địa bàn, mới chỉ có khoảng 1/3 nhà máy đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ. Qua kết quả khảo sát của Sở Tài nguyên - môi trường tại 3 KCN hiện có nhà máy XLNTTT, chỉ có nước thải của KCN Biên Hòa 2 là đạt tiêu chuẩn, nước thải của hai KCN còn lại chưa đạt yêu cầu vì lượng nước quá tải. Cũng thế, phần lớn nước thải ở các doanh nghiệp (DN) sản xuất trên địa bàn đều không đạt tiêu chuẩn. Ô nhiễm của nước thải nhiều hay ít phụ thuộc vào tính chất sản xuất của ngành công nghiệp; thành phần và mức độ ô nhiễm cũng khác nhau. Có lẽ gây ô nhiễm nặng nhất là nước thải của các cơ sở công nghiệp mạ, dệt nhuộm, giấy, da và các sản phẩm phun sơn, chế biến thực phẩm...
Hiện nay, lượng nước xả thải trung bình tại các KCN trên địa bàn tỉnh ước tính khoảng trên 60.000m3/ngày đêm. Nước thải từ các KCN không có nhà máy XLNTTT với lưu lượng lớn và thành phần ô nhiễm đa dạng, phức tạp đã và đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước mặt các sông, suối trong khu vực. Điều đáng nói là hàm lượng ô nhiễm trong nước thải vượt tiêu chuẩn quy định rất cao. Nước thải của nhiều KCN có chứa hóa chất và kim loại nặng nhiều thành phần nhưng không được xử lý không chỉ gây ô nhiễm môi trường và còn là nguy cơ tạo ra các bệnh nan y cho người. Qua kết quả khảo sát nước thải của Sở TN-MT tại các KCN, hàm lượng Coliform trong nước thải ở KCN Nhơn Trạch 2 vượt quy định đến 430 lần, ở KCN Nhơn Trạch 1 hàm lượng này vượt 930 lần, còn ở KCN Sông Mây vượt tới 1.860 lần! Cũng ở KCN Sông Mây, hàm lượng dầu mỡ khoáng vượt tới 590 lần. Điều khiến người ta lo ngại hơn là hàm lượng chì trong nước thải của KCN Biên Hòa 1 vượt 4 lần, hàm lượng phốtpho trong nước thải ở KCN Amata vượt khoảng 10,6 lần, amôniắc vượt đến 95 lần, hàm lượng crôm ở KCN Hố Nai vượt 75 lần... Nguyên nhân chính là do nước thải không được xử lý hoặc xử lý chưa đạt.
Ở những nước phát triển, trước khi đi vào hoạt động, KCN đó phải hoàn thiện nhà máy XLNTTT và các hạng mục cơ sở hạ tầng khác, đồng thời những nhà máy đầu tư sản xuất trong KCN đó đều phải có hệ thống XLNT cục bộ. Còn theo quy định trước đây Bộ TN-MT, các KCN lấp đầy 70% diện tích phải có nhà máy XLNTTT. Song thực tế, tình trạng nước thải chậm được xử lý tập trung đã gây ô nhiễm rất lớn cho môi trường và con người nên tại Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi, Bộ đã quy định lại: Trước khi kêu gọi đầu tư, các KCN phải hoàn chỉnh các hạng mục hạ tầng cơ sở (bao gồm cả nhà máy XLNTTT). Đối với những KCN sạch, công nghệ cao được phép lấp đầy không quá 30% diện tích KCN, nhà kinh doanh hạ tầng phải hoàn thiện hệ thống XLNTTT. Nhưng thực tế trên địa bàn Đồng Nai thời gian qua, hầu hết các KCN do hạn chế vốn nên thường xây dựng theo kiểu "cuốn chiếu", nghĩa là kêu gọi đầu tư, cho thuê đất trước để có tiền tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó có hệ thống XLNTTT, dẫn đến tình trạng nhiều DN nước ngoài khiếu nại đến các cấp lãnh đạo và ngành chức năng khi nước thải của họ không được thu gom xử lý đạt tiêu chuẩn loại A, trong khi giá thuê đất đã bao gồm cả phí xử lý nước thải tập trung. Nhiều DN còn lao đao đối phó với tình tạng bất bình của người dân do nước thải của nhà máy gây ô nhiễm, mặc dù trách nhiệm của DN là chỉ xử lý đạt loại B.
* Không làm đúng quy định, xử lý ra sao?
Trả lời phỏng vấn của báo Đồng Nai qua email, Bộ trưởng Bộ TN-MT Mai Ái Trực nói : "Đồng Nai là một tỉnh có nền kinh tế năng động. Việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là vấn đề cần được cân nhắc. Bảo vệ môi trường tập trung vào hai vấn đề: một là ngăn ngừa ô nhiễm, hai là phải xử lý ô nhiễm. Trong đó, việc ngăn ngừa tuy khó khăn bước đầu nhưng sau này không phải tốn hao tiền của, công sức để chạy theo xử lý. Lãnh đạo địa phương phải kiên quyết loại bỏ quan điểm "phát triển trước, xử lý môi trường sau". Đây là quan niệm sai lầm, sự sai lầm này sẽ phải trả giá rất đắt. Nếu địa phương chỉ tập trung vào phát triển kinh tế để có chỉ số tăng trưởng cao thì chắc chắn những lợi nhuận về kinh tế thu được hôm nay sẽ không thấm vào đâu so với việc phải giải quyết hậu quả ô nhiễm môi trường trong tương lai".
Cũng qua báo cáo kết quả của Đoàn thanh tra môi trường (Bộ TN-MT) tại một số KCN ở Đồng Nai vừa qua cho thấy có tới 94% DN được thanh tra đều vi phạm các quy định về môi trường. Một số công trình XLNTTT tại các KCN do tính toán và tiên lượng chưa đúng với thực tế đầu tư dẫn đến tình trạng quá tải, vận hành không đủ công suất, hiệu quả xử lý không đạt, gây lãng phí trong đầu tư. Trong khi đó, các nhà kinh doanh hạ tầng KCN đều biết rằng xây dựng nhà máy XLNTTT trong các KCN là tất yếu, nhưng do chi phí xây dựng tốn kém, thêm vào đó là những bất cập của hệ thống luật pháp và các chế tài xử lý vi phạm chưa nghiêm, nên cả nhà kinh doanh hạ tầng KCN lẫn các DN còn bàng quan trước vấn đề ô nhiễm do nước thải. Tại cuộc họp rà soát tình hình ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh do UBND tỉnh tổ chức ngày 26-10 vừa qua, ông Lê Viết Hưng, Giám đốc Sở TN-MT đã đề nghị UBND tỉnh cần kiên quyết hơn đối với những nhà kinh doanh hạ tầng KCN còn chần chừ trong việc xây dựng nhà máy XLNTTT. Nếu DN nào làm không tốt thì không cho phát triển mở rộng, không cho tiếp tục kêu gọi đầu tư. UBND tỉnh cũng cần có một hạn định cho những KCN chưa xây dựng nhà máy XLNTTT phải khẩn trương bắt tay xây dựng càng sớm càng tốt, có thể hạn chót là tháng 12-2005. Đối với những KCN đang xây dựng nhà máy XLNTTT, cần đầu tư để hoạt động xử lý đạt tiêu chuẩn quy định cũng nên làm trong tháng 12-2005. Đối với những KCN đã có hệ thống xử lý nhưng chưa đạt tiêu chuẩn như KCN Loteco, Amata thì phải tích cực cải tạo, nâng cấp và hoàn thiện nhà máy XLNTTT đang bị quá tải, đồng thời tăng cường việc kiểm tra, vận hành nhà máy nhằm khống chế và giảm thiểu ô nhiễm trong thời hạn 3 tháng. Còn KCN Biên Hòa cần sớm báo cáo kết quả việc đấu nối đưa nước thải từ KCN Biên Hòa 1 về nhà máy XLNTTT ở KCN Biên Hòa 2 và xử lý đạt tiêu chuẩn trước 30-12-2005. Cũng tại buổi làm việc này, ông Ao Văn Thinh, Phó chủ tịch UBND tỉnh cho biết: "Đúng là trong thời gian qua, chúng ta có chú trọng hơn việc thu hút đầu tư, tạo điều kiện cấp phép nhanh gọn nên không quản lý được các DN về xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ; thiếu kiên quyết với những DN kinh doanh hạ tầng KCN chưa làm đúng quy định. Bây giờ không thể kéo dài tình trạng này, UBND tỉnh sẽ có những biện pháp đối với các KCN này. Đồng thời sẽ có quy định: Những KCN xây dựng sau 2005, phải hoàn thiện cơ sở hạ tầng, trong đó phải có nhà máy XLNTTT mới cho giới thiệu đầu tư".
Theo quy hoạch, Đồng Nai còn khoảng 5 KCN nữa sẽ được đưa vào hoạt động. Để việc XLNTTT có hiệu quả nên chăng cần xây dựng các KCN với một loại hình sản xuất hoặc những nhóm ngành nghề khá tương đồng để có nguồn nước thải có tính đồng nhất để dễ xử lý và xử lý đạt hiệu quả cao. Hoặc sắp xếp các loại hình công nghiệp mà nước thải của một số cơ sở công nghệ này có thể sử dụng để xử lý hay tiền xử lý cho các cơ sở công nghiệp khác trước khi dẫn đến trạm xử lý tập trung, khi đó vừa tiết kiệm chi phí đầu tư, vừa tăng hiệu quả xử lý tại các trạm xử lý tập trung. Đồng thời, những người, những ngành có trách nhiệm phải kiên quyết ngay từ khi cấp phép cho các DN, quy định phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ trước khi đưa tới nhà máy XLNTTT và hệ thống XLNTTT phải được đầu tư xây dựng song song với kết cấu hạ tầng KCN. Hiện nay, phần lớn các KCN mới bước vào hoạt động nên chưa thể hiện hết công suất của một KCN tập trung, do đó chưa thể đánh giá hết ảnh hưởng của nước thải đối với môi trường. Vì vậy, trong thiết kế hệ thống xử lý nước thải, phải tính đến xu thế phát triển và mở rộng sản xuất của các DN trong KCN.
Phương Liễu
















