Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Bảo vệ môi trường trong KCN: Vẫn còn nhiều bất cập!

10:02, 15/02/2008

Tại cuộc Hội thảo Quốc gia về Bảo vệ môi trường (BVMT) trong các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), khu công nghệ cao (KCNC) vừa được Bộ Tài nguyên - môi trường (TN-MT) tổ chức tại tỉnh Bình Dương mới đây, nhiều vấn đề bất cập trong công tác BVMT - KCN đã được các đại biểu tham dự đặt ra...

Tại cuộc Hội thảo Quốc gia về Bảo vệ môi trường (BVMT) trong các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), khu công nghệ cao (KCNC) vừa được Bộ Tài nguyên - môi trường (TN-MT) tổ chức tại tỉnh Bình Dương mới đây, nhiều vấn đề bất cập trong công tác BVMT - KCN đã được các đại biểu tham dự đặt ra...

 

Hệ thống lọc bụi của nhà máy nhiệt điện Formosa (KCN Nhơn Trạch 3)

* Những bất cập trong xử lý chất thải công nghiệp

 

Ông Phùng Chí Sỹ, Phó viện trưởng Viện Kỹ thuật nhiệt đới và BVMT cho rằng: "Không nên áp đặt những quy định một cách máy móc cho doanh nghiệp". Bởi, theo ông, việc giao trách nhiệm cho chủ đầu tư hạ tầng KCN phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung (XLNTTT) là đúng, nhưng cần "chốt" một thời hạn nhất định. Vì, thực tế hiện nay, nhiều chủ đầu tư hạ tầng "chây lì", hoặc không đủ lực xây dựng hệ thống xử lý chung, dẫn đến tình trạng có những KCN lấp đầy đến 70-80% diện tích nhưng nước thải chưa xử lý vẫn vô tư xả thải ra môi trường. Trong khi đó, trong bản đánh giá tác động môi trường, các doanh nghiệp khi đầu tư buộc phải có hệ thống xử lý nước thải cục bộ. Nhiều doanh nghiệp chấp hành tốt, phải bỏ một khoản tiền lớn đầu tư xử lý cục bộ và xử lý đạt tiêu chuẩn. Nhưng khi đơn vị hạ tầng KCN xây xong hệ thống XLNTTT lại buộc các doanh nghiệp này phải đấu nối vào hệ thống xử lý chung, dẫn đến không chỉ lãng phí, mà còn không sòng phẳng và công bằng đối với doanh nghiệp. Còn những doanh nghiệp cố tình "nấn ná", không xử lý cục bộ, mà chờ có hệ thống xử lý chung rồi đấu nối vào, rõ ràng là có vi phạm nhưng lại được lợi. Do đó, cần quy định cụ thể doanh nghiệp nào đã đầu tư xử lý nước thải cục bộ và xử lý đạt, thì không bắt buộc phải đấu nối vào hệ thống xử lý chung, có như vậy mới khuyến khích doanh nghiệp đầu tư và cũng bớt gánh nặng cho đơn vị kinh doanh hạ tầng KCN. Ông Vũ Thọ, Phó giám đốc Sở TN-MT Hải Phòng cũng cho rằng: "Quy định các KCN phải có ngay hệ thống XLNTTT là không thể thực hiện được. Nên chăng cần quy định rõ mốc thời gian nào của quá trình xây dựng hạ tầng, phải có hệ thống XLNTTT, hoặc quy định KCN được phép lấp đầy bao nhiêu % diện tích, phải đưa hệ thống XLNTTT vào hoạt động (không có tình trạng "gia hạn"). 

Ông Nguyễn Nam Phương, Phó giám đốc  Quỹ BVMT Việt Nam thì cho rằng, theo Luật BVMT, các KCN, KCX... phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung đồng bộ với quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng KCN. Điều này  đúng, nhưng không phù hợp với tình hình thực tế các KCN-KCX ở Việt Nam. Bởi, hiện nay hầu hết các công ty kinh doanh hạ tầng KCN, KCX đều hoạt động theo kiểu "cuốn chiếu": xây dựng đến đâu, kêu gọi đầu tư đến đó. Nếu buộc KCN, KCX đó phải có hệ thống XNNTTT trước khi KCN đi vào hoạt động, e rằng không thể thực hiện được. Mà nếu KCN nào đủ lực đầu tư, thì việc bảo dưỡng thiết bị cũng khó khăn, vì phải "dầm mưa dãi nắng" một thời gian dài chờ các doanh nghiệp đầu tư đưa nhà máy vào sản xuất mới có nước thải để xử lý... Thêm nữa, khi thiết kế sẽ khó tính được công suất xử lý. Bởi, thực tế lượng nước thải của KCN không phụ thuộc vào số lượng doanh nghiệp đầu tư, mà phụ thuộc vào lượng nước thải mà doanh nghiệp ấy thải nhiều hay ít.

 

* Vai trò của đơn vị kinh doanh hạ tầng còn hạn chế...

 

Theo ông Trần Thanh Hồng, Phó tổng giám đốc KCX Linh Trung (Thủ Đức - TP.Hồ Chí Minh) thì: "Đơn vị kinh doanh hạ tầng KCN phải được quyền tự chủ hoặc được tăng thêm quyền lực về quản lý môi trường trong KCN của mình". Hiện nay, hầu như đơn vị kinh doanh hạ tầng chỉ có nhiệm vụ phối hợp với ngành chức năng trong thanh, kiểm tra và xử lý vi phạm các quy định về môi trường, mà gần như không có quyền quyết định đối với các chủ đầu tư trong KCN.

Một vấn đề nữa là hiện nay cơ chế đối thoại và chia sẻ thông tin 4 bên: doanh nghiệp - đơn vị kinh doanh hạ tầng KCN - cơ quan quản lý nhà nước về môi trường - cộng đồng dân cư sống quanh những khu vực sản xuất... cũng cần phải được thực thi. Bởi, theo ông Niels Juul Busch, cố vấn quản lý môi trường Chương trình Semla Việt Nam thì: "Thiếu cơ chế đối thoại này sẽ gây tâm lý không thoải mái cho các bên". Ông nói: "Nhiều doanh nghiệp nước ngoài đang đầu tư hoạt động tại Việt Nam phàn nàn rằng, doanh nghiệp phải tuân thủ những quy định được áp đặt từ trên. Ngay đơn vị quản lý gần nhất là BQL KCN, họ cũng chưa được chia sẻ thông tin và rất ít khi đối thoại thẳng thắn với nhau về vấn đề pháp luật môi trường. Việc đối thoại giữa: doanh nghiệp - quản lý - đơn vị kinh doanh hạ tầng KCN, với cộng động dân cư về các vấn đề môi trường cũng vậy. Ông cho biết, ở nhiều nước trên thế giới, mỗi năm công ty sản xuất phải mở cửa để người dân vào giám sát và chất vấn các chính sách môi trường của công ty đối với việc ảnh hưởng đến đời sống môi trường của họ.

 Ông Nguyễn Hòa Bình, Phó cục trưởng Cục BVMT cho biết: "Hiện nay vẫn còn rất nhiều bất cập về quản lý môi trường ở các KCN - KCX. Bộ TN - MT cũng đang thu thập ý kiến phản ánh về những vấn đề này để xây dựng Quy chế BVMT trong KCN, nhằm lập lại trật tự về BVMT và thay đổi những quy định không còn phù hợp với thực tế".

Phương Liễu

 

 

Tin xem nhiều