Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Mùa xuân nhớ Bác

Xuân Nam
08:11, 17/02/2026

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng vẻ vang, Chủ tịch Hồ Chí Minh có những mùa xuân với dấu ấn không thể nào quên: Từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, tìm ra con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu một mốc son quan trọng trong lịch sử dân tộc cho đến khi Người trở về nước lãnh đạo cách mạng lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Suốt 24 năm trên cương vị người đứng đầu Đảng, Nhà nước Việt Nam, cứ mỗi dịp Tết đến, xuân về, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều dành thời gian đến thăm và chúc Tết nhân dân. Người cũng dành những vần thơ xuân gửi tới đồng bào, cán bộ, chiến sĩ cả nước.

BÁC HỒ VỚI NHỮNG MÙA XUÂN XA TỔ QUỐC

Ngược dòng lịch sử, mùa xuân năm 1911, thầy giáo Nguyễn Tất Thành thôi dạy học ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) rồi vào Sài Gòn. Từ  Bến cảng Nhà Rồng, Người ra đi tìm đường cứu nước (ngày 5-6-1911). Hành trang Người mang theo là tri thức văn hóa phương Đông kết hợp phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, sự tiếp thu chọn lọc con đường cứu nước của những người yêu nước đi trước. Người ra đi với chủ đích rõ ràng, lớn lao: “Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ, sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Hà Bắc khi Người về thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sĩ tháng 2-1967. Ảnh tư liệu: Bảo tàng Hồ Chí Minh

Mùa xuân năm 1912, Nguyễn Tất Thành đón Tết đầu tiên xa Tổ quốc ở nước Mỹ xa xôi, lúc ấy Người làm phụ bếp tại khách sạn Omni Parker, thành phố Boston. Năm 1914, Người đến London - thủ đô nước Anh và làm nhiều việc để kiếm sống, hăng hái tham dự những cuộc diễn thuyết ngoài trời của nhiều nhà chính trị và triết học, tham gia Hội Những người lao động hải ngoại, ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân Ireland và đón giao thừa ở đây đến năm 1917. Từ năm 1918-1923, Người đón Tết tại Paris - thủ đô hoa lệ nước Pháp, trong thời gian này, vào tháng 6-1919, Bác đã cùng hội những người Việt Nam yêu nước gửi bản danh sách 8 điểm tới Nghị viện Pháp tại Versailles; mùa xuân năm 1921, Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours với tư cách là Đại biểu Đông Dương. Tại đây, Người đã bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III/ Quốc tế Cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và Người cũng trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Xuân Quý Hợi 1923, Nguyễn Ái Quốc tổ chức Tết Nguyên đán tại trụ sở Báo Le Paria. Đây là mùa xuân cuối cùng Người ở trên đất Pháp, mùa xuân tạo tiền đề lớn cho những bước ngoặt mới của cách mạng Việt Nam.

Năm 1929, Nguyễn Ái Quốc đón Tết ở Thái Lan, đây là mùa xuân đầu tiên từ khi xa Tổ quốc, Người đón Tết trong tình cảm ấm cúng của kiều bào Việt ở Udon Thani. Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Thái Lan thì được tin Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội đang có nguy cơ tan rã, Người lập tức về Trung Quốc để chuẩn bị việc hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 3-2-1930 (tức mùng 5 Tết Canh Ngọ), với tư cách là đại diện Quốc tế Cộng sản, Người đã chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hương Cảng. Đảng ra đời là một trong những mùa xuân hạnh phúc nhất của Người và mở ra những mùa xuân vẻ vang tiếp theo trong lịch sử dân tộc.

Tháng 6-1931, Nguyễn Ái Quốc lúc đó lấy tên là Tống Văn Sơ, bị cảnh sát Anh bắt tại số nhà 186 phố Tam Lung (Cửu Long) và giam ở nhà tù của thực dân Anh ở Hong Kong. Nguyễn Ái Quốc đã được Loseby, một luật sư người Anh có thiện tâm, tìm mọi cách giúp đỡ. Cuối tháng 1-1933, Hội đồng nhà Vua cho phép Nguyễn Ái Quốc tự do ra khỏi Hong Kong. Với sự giúp đỡ của vợ chồng Phó Thống đốc Hong Kong, ngày 25-1-1933, Người đã rời Hong Kong một cách an toàn. Vào một ngày đầu xuân năm 1934, Người lên một chiếc tàu hàng Xô Viết ở Thượng Hải để đi Liên Xô. Sau khi tới Cảng Vladivostok, Người đến Moskva. Tại đây, Người đã gặp lại đông đảo đồng chí, bạn bè thân thiết. Từ năm 1934-1938, Người học tập tại Trường Quốc tế Lê-nin, tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản và công tác tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa ở Moskva. Đó là những mùa xuân học tập, công tác trên đất Liên Xô.

BÁC CÙNG TỔ QUỐC VÀO XUÂN

Ngày 28-1-1941 (mùng 2 Tết Tân Tỵ), Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Người ở hang Cốc Bó, thôn Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (nay là xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng) trực tiếp cùng Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (15-5-1941) quyết định nhiều vấn đề mới, cho thấy tầm nhìn chiến lược của vị lãnh tụ thiên tài, đã tạo ra bước ngoặt to lớn của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Năm 1942, Nguyễn Ái Quốc lại sang Trung Quốc để liên lạc với lực lượng cách mạng Trung Quốc nhằm cùng xây dựng lực lượng đồng minh chống phát xít. Nhưng không may trong chuyến đi ấy, Người bị chính quyền Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch bắt giam và đày qua 18 nhà tù ở tỉnh Quảng Tây. Xuân năm 1943, ở trong tù và chính trong hoàn cảnh ấy, Người đã viết tác phẩm nổi tiếng Ngục trung nhật ký (tức Nhật ký trong tù) với 133 bài thơ chữ Hán, ngày nay đã trở thành Di sản văn hóa quý giá của dân tộc Việt Nam. 

Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời. Trong niềm vui khôn xiết của những ngày độc lập và sự hân hoan chào đón “mùa xuân đầu tiên” của nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Toàn đồng bào từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ăn Tết, mừng xuân… Mọi người được hưởng Tết xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập”.

Tết Bính Tuất 1946 - Tết Độc lập đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa diễn ra trong bối cảnh kẻ thù cũ chưa kịp rút đi đã thêm kẻ thù mới, hết sức khó khăn, nhưng Bác Hồ vẫn gửi thư chúc Tết động viên khích lệ tinh thần chiến sĩ, đồng bào ta trên Báo Cứu Quốc: “Bao giờ kháng chiến thành công/ Chúng ta cùng uống một chung rượu đào/ Tết này ta tạm xa nhau/ Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy”…“Trong năm Bính Tuất mới/ Muôn việc đều tiến tới/ Kiến quốc chóng thành công/ Kháng chiến mau thắng lợi”.

Còn xuân đầu tiên Bác Hồ đọc thư chúc Tết đồng bào ta là giây phút giao thừa năm Đinh Hợi 1947, tại trụ sở Đài Tiếng nói Việt Nam ở Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Nội). Thư chúc Tết của Bác là một tài sản văn hóa, lịch sử vô giá của dân tộc ta, “vừa là lời kêu gọi vừa là mùa xuân, là những dự báo lịch sử, những chỉ đạo chiến lược cách mạng đến với đồng bào chiến sĩ cả nước”.

Xuân Canh Dần 1950 là một cái Tết đặc biệt trong cuộc đời 79 mùa xuân cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã dành trọn những ngày Tết năm ấy cho các hoạt động đối ngoại, góp phần quan trọng vào việc “phá vỡ vòng vây đế quốc”, mở ra thời kỳ phát triển mới cho cách mạng Việt Nam. Đó là, sự kiện ngày 18-1-1950, Chính phủ Trung Quốc công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa; ngày 30-1-1950, Chính phủ Liên Xô, Chính phủ các nước dân chủ nhân dân Đông Âu lần lượt công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam...

Trong 24 năm làm Chủ tịch nước, Bác Hồ đã trải qua 9 mùa xuân tại Chiến khu Việt Bắc, 15 mùa xuân còn lại Bác đón Tết cùng đồng bào, đồng chí ở Hà Nội. Mùa Xuân Giáp Ngọ 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã bước vào năm thứ 9, lực lượng kháng chiến ngày càng lớn mạnh và giành được nhiều thắng lợi. Ngày 13-3-1954 được coi là ngày mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Trải qua 56 ngày đêm chiến đấu, hy sinh, gian khổ, chiến dịch kết thúc với thắng lợi hoàn toàn thuộc về nhân dân Việt Nam, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Genève, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tết Nguyên đán năm 1955 là Tết đầu tiên của Bác ở Thủ đô Hà Nội. Từ cái Tết ấy trở đi, xuân nào Người cũng dành thời gian đi đến nhiều nơi, các cơ sở, bệnh viện, nhà máy, trường học, đơn vị bộ đội; trực tiếp gặp gỡ, thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân ở miền Bắc. Đồng thời xuân nào Bác cũng gửi thiệp chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước: “Thân ái mấy lời chúc Tết: Toàn dân đoàn kết một lòng/ Miền Bắc thi đua xây dựng/ Miền Nam giữ vững thành đồng/ Quyết chí, bền gan phấn đấu/ Hòa bình thống nhất thành công” (1956); “Xuân về xin có một bài ca/ Gửi chúc đồng bào cả nước ta/ Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi/ Tin mừng thắng trận nở như hoa” (1967). “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/ Thắng trận tin vui khắp nước nhà/ Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/ Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!” (1968); “Năm qua thắng lợi vẻ vang/ Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/ Vì Độc lập, vì Tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/ Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào/ Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn” (1969). Những câu thơ chúc Tết của Bác rất giản dị, vừa là mùa Xuân vừa là lời căn dặn sâu xa, mộc mạc mà sâu lắng, tác động mạnh mẽ đến lòng người, góp phần không nhỏ vào thắng lợi của cách mạng nước nhà.

TẾT TRỒNG CÂY, NGƯỜI ĐỂ LẠI CHO MAI SAU

Mùa xuân của Bác còn là mùa xuân trồng cây cho muôn đời sau, Bác từng nói: “Mùa xuân thì trời vui, đất vui, người càng vui. Cho nên ngay từ đầu mùa xuân mọi công việc được làm tốt thì cả năm sẽ phát triển tốt và kết quả tốt”. Xuân Canh Tý 1960, Bác Hồ phát động phong trào Tết trồng cây “nhằm giáo dục ý thức tôn trọng và bảo vệ môi trường sống, yêu quý thiên nhiên, yêu quý đất nước giàu đẹp của chúng ta và cả Trái đất này”. Bác đến công viên Thống Nhất tham gia cùng nhân dân thủ đô trồng cây, rồi Bác viết 2 câu thơ nổi tiếng: “Mùa xuân là Tết trồng cây/Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”.

Bác Hồ trồng cây ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Nội ngày 16-2-1969. Ảnh tư liệu

Năm 1965, Mỹ rải chất độc da cam tàn phá những cánh rừng ở miền Nam, Hồ Chủ tịch đã ra Lời kêu gọi cả nước trồng cây cho cả đồng bào miền Nam ruột thịt “… Trong lúc giặc dã man rải chất độc màu da cam phá hoại cây cối núi rừng miền Nam thì ở miền Bắc nhân dân ta thi đua trồng cây gây rừng… Ta trồng cây cho ta và cho cả đồng bào miền Nam nữa” và chính Người đã trồng cây đa tại xã Đông Hội, huyện Đông Anh (nay là xã Đông Anh, thành phố Hà Nội) vào sáng 31-1-1965. Và nhiều mùa xuân sau, Bác cùng chiến sĩ, đồng bào tham gia Tết trồng cây ở nhiều địa phương miền Bắc; xuân năm 1969, xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Nội (nay là xã Vật Lại, Thành phố Hà Nội) là địa phương cuối cùng được Bác về thăm, chúc Tết, nói chuyện và trồng cây lưu niệm.

Cả cuộc đời vì nước, vì dân, mùa xuân cuối cùng ấy sức khỏe yếu đi nhiều nhưng Bác Hồ kính yêu vẫn rất mực gần gũi, yêu thương, quan tâm đến nhân dân, chăm lo cho sự nghiệp trồng cây, trồng người của cả dân tộc. Và từ năm 1960, Tết trồng cây đã trở thành một phong tục mới của dân tộc ta trong những ngày xuân, được duy trì cho đến ngày nay.

Mùa xuân này, chúng ta lại nhớ Bác, nhớ về những mốc son lịch sử trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người gắn với những mùa xuân của dân tộc; nhớ mãi sự quan tâm, động viên sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào, cán bộ, chiến sĩ cả nước mỗi dịp Tết đến, xuân về. Chúng ta nguyện quyết tâm thực hiện lời dạy của Người; tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Xuân Nam

Tin xem nhiều