Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Chính sách về miễn, giảm thuế đất nông nghiệp, tiền sử dụng đất

Đoàn Phú
10:58, 19/01/2026

Đất đai là tư liệu sản xuất quý giá của nhà nông. Vì vậy, khi Nhà nước tiếp tục có chính sách miễn thuế sử dụng đất (SDĐ) nông nghiệp và miễn, giảm tiền thuê đất, chuyển đổi mục đích SDĐ… là tin vui đối với hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp.

Đất trồng cây lâu năm của ông Nguyễn Văn Khải (trái, ở ấp Cây Điệp, xã Đồng Tâm) được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp. Ảnh: Đoàn Phú
Đất trồng cây lâu năm của ông Nguyễn Văn Khải (trái, ở ấp Cây Điệp, xã Đồng Tâm) được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp. Ảnh: Đoàn Phú

Tiếp tục miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp

Theo quy định của pháp luật, cá nhân SDĐ vào sản xuất nông nghiệp phải nộp thuế SDĐ nông nghiệp (gọi chung là hộ nộp thuế). Hộ được giao quyền SDĐ nông nghiệp mà không sử dụng vẫn phải nộp thuế SDĐ nông nghiệp. Theo đó, đất chịu thuế SDĐ nông nghiệp là đất dùng vào sản xuất nông nghiệp, bao gồm: đất trồng trọt, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản, đất rừng trồng.

Chính vì vậy, ông Huỳnh Văn Tư (ngụ phường Đồng Tâm), bà Lý Thị Ngọc (ngụ xã Phú Lâm) thắc mắc khi tiếp nhận thông tin: Kể từ ngày 1-1-2026, những nông dân đang SDĐ nông nghiệp trong hạn mức như ông, bà không phải nộp thuế SDĐ nông nghiệp vì được miễn nộp, điều đó có đúng không?

Hay như vấn đề ông Điểu Kiên (ngụ xã Tân Quan) muốn biết: Với hộ đồng bào dân tộc thiểu số thì không chỉ được Nhà nước miễn tiền thuế SDĐ nông nghiệp mà còn được miễn, giảm tiền thuê, cấp, chuyển đổi mục đích SDĐ khác sang đất nông nghiệp?

Với những thắc mắc trên, luật sư Nguyễn Thanh Tấn, Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai cho biết: Người SDĐ nói chung và SDĐ nông nghiệp nói riêng đều phải có nghĩa vụ nộp thuế SDĐ, vì thuế SDĐ là một trong những khoản thu ngân sách từ đất đai nên bắt buộc người SDĐ phải có nghĩa vụ nộp đúng, đủ, kịp thời theo quy định. Tuy vậy, tùy vào tình hình, đối tượng, chính sách pháp luật quy định đối tượng được miễn hay giảm tiền thuế SDĐ nông nghiệp. Chính vì thuộc đối tượng miễn, giảm thuế SDĐ nông nghiệp nên người SDĐ tạm thời không phải thực hiện nghĩa vụ nộp, hoặc chỉ nộp tỷ lệ thấp hơn so với mức thuế bắt buộc phải thực hiện theo đúng quy định về thuế SDĐ hiện hành.

Căn cứ Điều 2 Nghị định 292/2025/NĐ-CP ngày 6-11-2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 216/2025/QH15 ngày 26-6-2025 của Quốc hội về việc kéo dài thời hạn miễn thuế SDĐ nông nghiệp (gọi tắt Nghị định 292) có quy định, miễn thuế SDĐ nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm; diện tích đất trồng cây hằng năm theo quy định của pháp luật về đất đai; diện tích đất làm muối. Miễn thuế SDĐ nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao hoặc công nhận quyền SDĐ cho hộ nghèo. Miễn thuế SDĐ nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, công nhận quyền SDĐ để sản xuất nông nghiệp, nhận chuyển quyền SDĐ nông nghiệp (bao gồm cả nhận thừa kế, tặng cho quyền SDĐ nông nghiệp)…

Luật sư Nguyễn Thanh Tấn lưu ý: Thời hạn miễn thuế SDĐ nông nghiệp quy định tại Điều 2 Nghị định 292 được thực hiện từ ngày 1-1-2026 đến hết ngày 31-12-2030.

Khoản 3, Điều 5 Nghị định 230/2025/NĐ-CP ngày 19-8-2025 của Chính phủ quy định các trường hợp được miễn, giảm tiền SDĐ, tiền thuê đất theo quy định tại khoản 2, Điều 157 Luật Đất đai năm 2024 có quy định về miễn, giảm tiền thuê đất đối với trường hợp người SDĐ được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi, trồng thủy sản, làm muối mà bị thiên tai, hỏa hoạn.

Đối tượng miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất

Ngoài chính sách miễn thuế SDĐ nông nghiệp theo quy định, người SDĐ còn có thể được thụ hưởng chính sách miễn, giảm tiền SDĐ, tiền thuê đất theo Luật Đất đai năm 2024 và quy định pháp luật có liên quan.

Ông Dương Văn Tín, Phó Chủ tịch Hội Luật gia tỉnh Đồng Nai hướng dẫn: Tại Điều 18 Nghị định 103/2024/NĐ-CP ngày 30-7-2024 của Chính phủ quy định về tiền SDĐ, tiền thuê đất có quy định các trường hợp được miễn tiền SDĐ như: Miễn tiền SDĐ khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho phép chuyển mục đích SDĐ, công nhận quyền SDĐ (cấp giấy chứng nhận) trong hạn mức đất ở cho người SDĐ đối với người nghèo, hộ gia đình hoặc cá nhân là người dân tộc thiểu số sinh sống tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

Miễn tiền SDĐ trong hạn mức giao đất ở khi cấp giấy chứng nhận lần đầu đối với đất do chuyển mục đích SDĐ từ đất không phải là đất ở sang đất ở do tách hộ đối với hộ gia đình là người dân tộc thiểu số, hộ nghèo tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định.

Riêng về chính sách miễn, giảm tiền SDĐ, cũng theo luật gia Dương Văn Tín, tại điểm a, khoản 7, Điều 1 Nghị định 291/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30-7-2024 của Chính phủ quy định về tiền SDĐ, tiền thuê đất có quy định, giảm 50% tiền SDĐ đối với người nghèo, hộ gia đình hoặc cá nhân là người dân tộc thiểu số sinh sống tại các địa bàn không thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo; giao đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở và không có chỗ ở nào khác trong địa bàn đơn vị hành chính cấp xã nơi có đất bị thu hồi.

Luật gia Dương Văn Tín lưu ý: Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được miễn hoặc giảm tiền SDĐ theo quy định chỉ được miễn hoặc giảm một lần tiền SDĐ đối với diện tích đất trong hạn mức giao đất ở khi được Nhà nước giao đất để làm nhà ở hoặc được phép chuyển mục đích SDĐ từ đất khác sang đất ở hoặc được công nhận vào mục đích đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai. Việc miễn, giảm tiền SDĐ đối với hộ gia đình, cá nhân là người nghèo, người dân tộc thiểu số chỉ áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân sinh sống (thường trú) tại nơi có đất. Trường hợp người SDĐ thuộc đối tượng được hưởng cả miễn và giảm tiền SDĐ theo quy định thì được miễn tiền SDĐ. Trường hợp người sử dụng đất thuộc đối tượng được giảm tiền SDĐ nhưng có nhiều mức giảm khác nhau thì được hưởng mức giảm cao nhất….

Đoàn Phú

Tin xem nhiều