Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Anh hùng lao động, GS. Vũ Khiêu: Tôi chỉ là người lao động bình thường luôn gắng sức làm việc

10:09, 26/09/2014

Hiếm có trí thức Việt Nam nào được như ông: là chuyên gia đầu ngành ở nhiều lĩnh vực; được phong tặng nhiều danh hiệu cao quý: Giải thưởng Hồ Chí Minh, Anh hùng lao động, Công dân ưu tú thủ đô; bước vào tuổi bách tuế vẫn mẫn tiệp và lao động miệt mài, cho ra đời nhiều trước tác giá trị về mặt lịch sử, văn hóa.

Hiếm có trí thức Việt Nam nào được như ông: là chuyên gia đầu ngành ở nhiều lĩnh vực; được phong tặng nhiều danh hiệu cao quý: Giải thưởng Hồ Chí Minh, Anh hùng lao động, Công dân ưu tú thủ đô; bước vào tuổi bách tuế vẫn mẫn tiệp và lao động miệt mài, cho ra đời nhiều trước tác giá trị về mặt lịch sử, văn hóa.

Ông chính là Anh hùng lao động, GS. Vũ Khiêu, người vừa được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng mừng thọ 100 tuổi bằng câu đối Sơn hà linh khí tại/ Kim cổ nhất hiền nhân.

* Trời cho tôi sống thì tôi còn làm việc

Thưa GS. Vũ Khiêu, làm thế nào mà ông có thể am hiểu sâu rộng, xây dựng nền tảng nghiên cứu khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau như thế?

- Tôi sinh ra và lớn lên ở làng Hành Thiện, thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Đây là một trong những ngôi làng cổ nổi tiếng có truyền thống văn hóa, đã sản sinh rất nhiều danh nhân trên các lĩnh vực. Lớn lên trong cái nôi truyền thống, ông nội tôi là một nhà khoa bảng, sau này từ quan về làng; bố tôi là một nhà nho yêu nước, từng tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục, nên từ nhỏ tôi đã được tiếp thu truyền thống gia đình, dòng tộc. Đây là yếu tố quan trọng.

Lúc tôi còn nhỏ, gia đình rất nghèo, thiếu thốn đủ mọi bề, thậm chí có những lúc nhà hết gạo phải đi vay mượn, nhưng chúng tôi vẫn cố gắng vượt qua để học hành. Lên 5 tuổi tôi đã được học chữ nho, lớn lên đi học trường Tây. Được học hết trung học - thời đó gọi là tú tài, nhưng tôi cảm thấy kiến thức học hỏi như thế vẫn chưa đủ. Để có một trí tuệ bao quát, thấu hiểu và kết nối các lĩnh vực không gì khác được là cần phải luôn học hỏi. Phần lớn thời gian tôi luôn đọc sách, tự học, nghiên cứu. Nhờ vậy, sau này tôi có vốn kiến thức ở nhiều lĩnh vực, như: chính trị, quân sự, văn hóa, triết học, nghệ thuật, giáo dục, tôn giáo, lịch sử, mỹ học, tư tưởng Hồ Chí Minh…

Nhiều danh hiệu, nhiều bạn bè, học trò ở khắp các vùng miền đất nước, trong ngôi nhà của ông ở phố Vạn Bảo (Hà Nội)cũng rất nhiều sách vở. Dường như, từ trước đến nay chỉ có một thứ ông không nhiều, đó là tiền tài. Được biết, ông hiện vẫn sống rất thanh đạm. Vì sao ông đã chọn cho mình lối sống như thế? Gia đình, người thân có chia sẻ được cách sống của ông?

- Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười  trước đây có tặng tôi câu đối: Hai bàn tay trắng không vương bụi/ Một tấm lòng son ở với đời. Tôi nghĩ, đó cũng là quan niệm sống của tôi.

Tôi có may mắn là vợ của tôi (bà Nguyễn Thị Quý, đã mất năm 1994) vừa là đồng hương, vừa là đồng chí, đồng đội, thấu hiểu và gắn bó, chia sẻ với tôi trong tất cả mọi việc riêng, chung. Thời kháng chiến chống Pháp, vợ và các con theo tôi suốt các vùng núi phía Bắc, cuộc sống thiếu thốn, vất vả tứ bề mà không một lời than vãn. Đến lúc về lại thủ đô, cả nhà 7 người sống trong ngôi nhà cấp 4 chỉ hơn 20m2 ở sau Viễn Đông Bác Cổ. Có những ngày mưa dột tứ bề, cả nhà bê xô, chậu, xoong nồi bày đầy các nơi hứng nước mà nhà vẫn ngập nước. Bữa cơm gia đình thường xuyên chỉ có lạc rang, muối vừng, đậu phụ. Một tay vợ tôi chăm nom, quán xuyến mọi việc để tôi chuyên tâm nghiên cứu, sáng tác. Chính tại nơi này, tôi đã viết nhiều tác phẩm, như: Đẹp, Mỹ học, Lịch sử tư tưởng, Văn hiến Việt Nam, Cách mạng và nghệ thuật, Anh hùng và nghị sĩ… Với tôi, ngôi nhà ấy chứa rất nhiều kỷ niệm, đầy ắp hình bóng người vợ tảo tần của tôi.

Ở tuổi 100, với quá nhiều cống hiến cho đất nước, ông hoàn toàn có thể nghỉ ngơi, nhưng ông vẫn tiếp tục làm việc?

- Tôi đang chủ biên bộ sách Nghìn năm Thăng Long 134 quyển, mỗi quyển độ khoảng ngàn trang. Đồng chí Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị có đo bộ sách này dài khoảng 6m.

Ngày 10-10, Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm tiếp quản Thủ đô. Tôi đã viết bộ sách về Văn hiến Thăng Long 2.400 trang. Những bản sách đầu tiên tôi sẽ tặng cho Hà Nội và các đồng chí lãnh đạo tỉnh Đồng Nai để bày tỏ sự gắn bó và tình cảm của tôi.

“Không ai bảo đến mà vẫn đến - đó là trời, không ai bảo đi mà vẫn đi - đó là mệnh”.  Trời còn cho tôi sống thì tôi còn làm việc.

* Đồng Nai - hai tiếng thân thương

Sinh ra, lớn lên và làm việc ở miền Bắc, nhưng ông cũng rất gắn bó với miền Nam, trong đó có Đồng Nai. Điều này có cơ duyên nào không, thưa ông?

- Ngày 1-5-1975, tôi được Đại tướng Lê Trọng Tấn đưa vào miền Nam bằng máy bay, giải phóng Sài Gòn được 2 ngày tôi đã có mặt. Trung ương Cục miền Nam giao cho tôi phụ trách vấn đề văn hóa và nghệ thuật. Từ đó, tôi bắt đầu gắn bó, đóng góp với miền Nam đến tận bây giờ.

Với Đồng Nai, tôi có người thân công tác ở đây là anh Hai Việt (Nguyễn Quang Việt, Phó ban Tổ chức Tỉnh ủy) vốn là cháu tôi. Vì thế, ngoài công việc chung tôi còn gắn bó với Đồng Nai bằng tình cảm riêng. Đặc biệt, từ khi Đồng Nai phục dựng Văn miếu Trấn Biên, lãnh đạo tỉnh rất quan tâm đến việc tạo “hồn” cho văn miếu nên năm 2001 đã cử anh Huỳnh Văn Tới (lúc đó là Phó chủ tịch UBND tỉnh) ra Hà Nội, đặt vấn đề nhờ tôi viết văn bia.

Tôi dành nhiều tháng để đọc tài liệu, nghiên cứu về vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai, nhưng cảm thấy vẫn chưa đủ. Tôi đã 4 lần bay từ Hà Nội vào để đi điền dã, gặp gỡ tiếp xúc với nhiều người, nhiều giới ở Đồng Nai, đến thăm công trình Văn miếu Trấn Biên lúc đó hãy còn xây dang dở để tìm hiểu thực tế. Khi viết văn bia cho Văn miếu Trấn Biên, tôi đã dốc hết tâm sức của mình, thể hiện cho được tầm vóc và chiều sâu trí tuệ của vùng đất địa linh nhân kiệt này. Vì thế, từ lâu hai tiếng Đồng Nai với tôi trở nên vô cùng thân thương.

Trong cuộc đời mình, tôi được Đảng phân công giữ nhiều nhiệm vụ khác nhau, như: Giám đốc Sở Văn hóa Khu 10 (Việt Bắc), Phó tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, dạy tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, phụ trách công tác tuyên huấn ở Khu 10, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học - xã hội Việt Nam, Viện trưởng đầu tiên của Viện Xã hội học... Nhìn lại, các lĩnh vực này đều khác nhau, rất mới mẻ vào thời điểm ấy. Với công việc nào tôi cũng dốc hết tâm sức, tự học hỏi để hoàn thành trách nhiệm được giao. Thời nào cũng thế, thế hệ trẻ cần phải học tập, rèn luyện đạo đức, đặc biệt là luôn giữ đầu óc thanh thản và minh mẫn thì cơ thể mới khỏe mạnh, học tập và làm việc được. 

Tôi thấy mình chỉ là người lao động bình thường luôn gắng sức làm việc, thế thôi. Tôi quan niệm rằng làm gì cũng phải dốc hết sức, thành công đến đâu là do sự cố gắng của mình.

Một số người vẫn cho rằng phát triển kinh tế luôn đi ngược lại văn hóa. Đồng Nai là tỉnh công nghiệp phát triển nhanh, không tránh khỏi có những điểm còn bất cập trong phát triển văn hóa. Ông nhận xét thế nào về điều đó?

- Mỗi lần về Đồng Nai, tôi lại thấy sự đổi khác khiến tôi rất vui mừng. Điều này thể hiện sự năng động, sáng tạo của các vị lãnh đạo tỉnh. Đặc biệt, Đồng Nai không chỉ phát triển về kinh tế, lĩnh vực văn hóa cũng rất được quan tâm chú trọng, trong đó đỉnh cao là Văn miếu Trấn Biên, biểu tượng cho tâm hồn, khí phách, trí tuệ, tài năng của Đồng Nai, là sự tiếp nối và phát huy tinh thần của Văn miếu Thăng Long. Công trình này mang ý nghĩa văn hiến và văn hóa - những nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện hoài bão và trách nhiệm của lãnh đạo và nhân dân Đồng Nai trước dân tộc và thế giới, nhất là trong thời kỳ phát triển hiện nay. Không phải có tiền là xây dựng được văn miếu, quan trọng nhất là những giá trị văn hóa được lưu giữ bên trong, góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Điều này không dễ làm được.

Ở Văn miếu Trấn Biên, tôi rất tâm đắc với chữ “Văn” khắc nơi thờ Khổng Tử.  Văn, là văn hóa, chứ không phải văn chương. Văn hóa là cốt lõi của cuộc sống. Hai câu “Bất học bất tri lý”, “Học nhi thời tập chi” ở hai bên chữ “Văn” nhắc nhở con người nếu không học thì không biết đạo lý, nhưng học thì phải năng thực hành theo những gì đã được học.

 Xin cảm ơn ông!

Thanh Thúy (thực hiện)

 

Tin xem nhiều