Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 đã làm nhiều quốc gia và doanh nghiệp lao đao, hàng loạt công ty đã phải phá sản hoặc thu hẹp sản xuất. Nhưng vẫn có những công ty không những trụ vững mà còn kiếm được lợi nhuận trong chính cuộc khủng hoảng này. Chúng ta có thể nghiên cứu học hỏi được gì qua thực tiễn vấn đề nêu trên? Chúng ta phải làm gì nếu phải đương đầu với những cuộc khủng hoảng mới? Để có cơ sở lý giải, chúng tôi xin phân tích một trường hợp điển hình đó là Công ty Avon Product Inc.
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 đã làm nhiều quốc gia và doanh nghiệp lao đao, hàng loạt công ty đã phải phá sản hoặc thu hẹp sản xuất. Nhưng vẫn có những công ty không những trụ vững mà còn kiếm được lợi nhuận trong chính cuộc khủng hoảng này. Chúng ta có thể nghiên cứu học hỏi được gì qua thực tiễn vấn đề nêu trên? Chúng ta phải làm gì nếu phải đương đầu với những cuộc khủng hoảng mới? Để có cơ sở lý giải, chúng tôi xin phân tích một trường hợp điển hình đó là Công ty Avon Product Inc.
Avon Product Inc là một tập đoàn chuyên sản xuất đồ trang sức, quần áo và mỹ phẩm, hiện diện trên khắp thế giới với vị thế của một công ty đa quốc gia. Riêng khu vực châu Á, họ đã có mặt ở 10 quốc gia với Trung Quốc, Indonesia, Philippines và Nhật Bản là những thị trường lớn nhất. Để hạn chế các rủi ro tiền tệ ở khu vực châu Á, đặc biệt là rủi ro về tỷ giá hối đoái do đồng tiền của các quốc gia này thường bất ổn, Avon áp dụng các biện pháp phi tài chính như: mua hầu hết nguyên vật liệu và sản xuất hầu hết các sản phẩm ngay tại thị trường bán nguyên vật liệu đó để không phải thanh toán các khoản nhập khẩu bằng USD; chuyển lợi nhuận hàng tuần (thay vì hàng tháng ) về công ty mẹ... và họ đã tỏ ra khá tự tin với các bước đi của mình, thậm chí ngay cả khi Chính phủ Thái Lan tuyên bố phá giá đồng bạt. Khi cuộc khủng khoảng lan tràn ra khắp khu vực châu Á và trên thế giới,
Như chúng ta đã biết, châu Á được các nhà kinh tế đánh giá là nơi có nguy cơ rủi ro tiền tệ rất cao vì tính chất không ổn định của đồng tiền các quốc gia trong khu vực, dẫn đến nguy cơ rủi ro trên thị trường ngoại hối là rất lớn và cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 là một minh chứng rõ nét còn để lại hậu quả cho đến ngày hôm nay. Nguy cơ rủi ro ngoại hối có thể bắt nguồn từ các giao dịch thương mại do việc mua bán nguyên vật liệu, sản phẩm bằng ngoại tệ. Rủi ro ngoại hối sẽ xảy ra do công ty phải mua ngoại tệ để thanh toán cho đối tác nước ngoài (khi ngoại tệ lên giá) hoặc bán ngoại tệ để thanh toán cho nhà cung cấp trong nước (khi ngoại tệ mất giá) hoặc bắt nguồn từ các Chi nhánh nước ngoài do việc chuyển lợi nhuận về công ty mẹ, khi tỷ giá hối đoái thay đổi sẽ làm thay đổi dòng lưu chuyển lợi nhuận của công ty mẹ, hoặc bắt nguồn từ các khoản vay bằng ngoại tệ, (công ty sẽ dễ gặp rủi ro về tỷ giá hối đoái khi thanh toán lãi suất và khi hoàn trả khoản vay cuối cùng); hoặc bắt nguồn từ nguy cơ rủi ro chiến lược (độ nhạy cảm kinh tế đối với rủi ro tỷ giá - đây là một loại nguy cơ không rõ ràng, khó định lượng nhưng mức độ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và khả năng sinh lợi của (công ty là rất lớn). Chẳng hạn như một công ty không sử dụng các khoản vay bằng ngoại tệ, chỉ sử dụng nguyên liệu tại chỗ, sản xuất và bán sản phẩm tại chỗ nhưng họ vẫn phải chịu sự tác động gián tiếp do sự mất giá đồng tiền tại quốc gia của các đối thủ cạnh tranh, vì khi đó sản phẩm của đối thủ canh tranh sẽ rẻ hơn sản phẩm cùng loại của công ty đó.
Trở lại vấn đề của
Với những kinh nghiệm quý báu rút ra được từ cuộc khủng hoảng tiền tệ 1997, trong tương lai nếu có thêm một cuộc khủng hoảng tiền tệ nữa ở châu Á, từ kinh nghiệm của Avon, mỗi công ty nên có sự chuẩn bị kỹ lưỡng hơn để ngăn ngừa, hạn chế mọi rủi ro có thể xảy ra. Song song với việc thực hiện những bước đi thận trọng như họ đã từng làm, tận dụng các cơ hội từ sự rối loạn để vừa tránh được rủi ro, vừa tìm kiếm thêm các khoản lợi nhuận mới. Tuy nhiên, việc lựa chọn các công cụ phòng ngừa rủi ro và thời điểm tiến hành phòng ngừa cũng là một điều phải đặc biệt lưu tâm. Ngay khi phát hiện những dấu hiệu rõ ràng của một cuộc khủng hoảng tiền tệ, mỗi công ty phải tiến hành hàng loạt các biện pháp tự bảo hiểm. Trong các công cụ kiểm soát rủi ro như: Hợp đồng ngoại hối kỳ hạn, quyền chọn mua (bán) tiền tệ và nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ (SWAP), nếu so với điều kiện thực tế của Avon (chuyển lợi nhuận về Mỹ hàng tuần) thì áp dụng công cụ quyền chọn mua sẽ phù hợp hơn, vì nó linh hoạt hơn hợp đồng kỳ hạn và công ty không thực hiện các khoản vay nợ bằng ngoại tệ nên cũng không cần thiết phải sử dụng công cụ SWAP.
Thảo Nhi
(VP. HĐND - UBND huyện Long Thành)



![[Video_Chạm 95] Xã Thuận Lợi](/file/e7837c02876411cd0187645a2551379f/012026/cham_95_xa_thuan_loi_sua.mp4.00_00_38_20.still001_20260108102309.jpg?width=400&height=-&type=resize)

![[Chùm ảnh] Nhộn nhịp đánh bắt cá cơm trên hồ Trị An](/file/e7837c02876411cd0187645a2551379f/012026/thuyen_ca_20260106125412_20260106133943.jpg?width=500&height=-&type=resize)






