Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Vượt qua cơn bão khủng hoảng tài chính: Kinh nghiệm từ Avon

11:05, 09/05/2006

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 đã làm nhiều quốc gia và doanh nghiệp lao đao, hàng loạt công ty đã phải phá sản hoặc thu hẹp sản xuất. Nhưng vẫn có những công ty không những trụ vững mà còn kiếm được lợi nhuận trong chính cuộc khủng hoảng này. Chúng ta có thể nghiên cứu học hỏi được gì qua thực tiễn vấn đề nêu trên? Chúng ta phải làm gì nếu phải đương đầu với những cuộc khủng hoảng mới? Để có cơ sở lý giải, chúng tôi xin phân tích một trường hợp điển hình đó là Công ty Avon Product Inc.

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 đã làm nhiều quốc gia và doanh nghiệp lao đao, hàng loạt công ty đã phải phá sản hoặc thu hẹp sản xuất. Nhưng vẫn có những công ty không những trụ vững mà còn kiếm được lợi nhuận trong chính cuộc khủng hoảng này. Chúng ta có thể nghiên cứu học hỏi được gì qua thực tiễn vấn đề nêu trên? Chúng ta phải làm gì nếu phải đương đầu với những cuộc khủng hoảng mới? Để có cơ sở lý giải, chúng tôi xin phân tích một trường hợp điển hình đó là Công ty Avon Product Inc.

 

Avon Product Inc là một tập đoàn chuyên sản xuất đồ trang sức, quần áo và mỹ phẩm, hiện diện trên khắp thế giới với vị thế của một công ty đa quốc gia. Riêng khu vực châu Á, họ đã có mặt ở 10 quốc gia với Trung Quốc, Indonesia, Philippines và Nhật Bản là những thị trường lớn nhất. Để hạn chế các rủi ro tiền tệ ở khu vực châu Á, đặc biệt là rủi ro về tỷ giá hối đoái do đồng tiền của các quốc gia này thường bất ổn, Avon áp dụng các biện pháp phi tài chính như: mua hầu hết nguyên vật liệu và sản xuất hầu hết các sản phẩm ngay tại thị trường bán nguyên vật liệu đó để không phải thanh toán các khoản nhập khẩu bằng USD; chuyển lợi nhuận hàng tuần (thay vì hàng tháng ) về công ty mẹ... và họ đã tỏ ra khá tự tin với các bước đi của mình, thậm chí ngay cả khi Chính phủ Thái Lan tuyên bố phá giá đồng bạt. Khi cuộc khủng khoảng lan tràn ra khắp khu vực châu Á và trên thế giới, Avon mới vội vã thực hiện các biện pháp tự bảo hiểm đối với khoản doanh thu từ châu Á của mình và họ đã thành công.

Như chúng ta đã biết, châu Á được các nhà kinh tế đánh giá là nơi có nguy cơ rủi ro tiền tệ rất cao vì tính chất không ổn định của đồng tiền các quốc gia trong khu vực, dẫn đến nguy cơ rủi ro trên thị trường ngoại hối là rất lớn và cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 là một minh chứng rõ nét còn để lại hậu quả cho đến ngày hôm nay. Nguy cơ rủi ro ngoại hối có thể bắt nguồn từ các giao dịch thương mại do việc mua bán nguyên vật liệu, sản phẩm bằng ngoại tệ. Rủi ro ngoại hối sẽ xảy ra do công ty phải mua ngoại tệ để thanh toán cho đối tác nước ngoài (khi ngoại tệ lên giá) hoặc bán ngoại tệ để thanh toán cho nhà cung cấp trong nước (khi ngoại tệ mất giá) hoặc bắt nguồn từ các Chi nhánh nước ngoài do việc chuyển lợi nhuận về công ty mẹ, khi tỷ giá hối đoái thay đổi sẽ làm thay đổi dòng lưu chuyển lợi nhuận của công ty mẹ, hoặc bắt nguồn từ các khoản vay bằng ngoại tệ, (công ty sẽ dễ gặp rủi ro về tỷ giá hối đoái khi thanh toán lãi suất và khi hoàn trả khoản vay cuối cùng); hoặc bắt nguồn từ nguy cơ rủi ro chiến lược (độ nhạy cảm kinh tế đối với rủi ro tỷ giá - đây là một loại nguy cơ không rõ ràng, khó định lượng nhưng mức độ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và khả năng sinh lợi của (công ty là rất lớn). Chẳng hạn như một công ty không sử dụng các khoản vay bằng ngoại tệ, chỉ sử dụng nguyên liệu tại chỗ, sản xuất và bán sản phẩm tại chỗ nhưng họ vẫn phải chịu sự tác động gián tiếp do sự mất giá đồng tiền tại quốc gia của các đối thủ cạnh tranh, vì khi đó sản phẩm của đối thủ canh tranh sẽ rẻ hơn sản phẩm cùng loại của công ty đó.

Trở lại vấn đề của Avon, công ty đã có những bước đi thận trọng nào để hạn chế các rủi ro về ngoại hối và các bước đi đó đã đủ để giúp công ty tự bảo vệ trước các bất ổn về tiền tệ chưa? Công bằng mà nói, các nhà quản lý của Avon ở khu vực châu Á  quả là những nhà chiến lược dày dạn; mỗi bước đi của họ đều hết sức thận trọng và đem lại hiệu quả rõ rệt. Họ đã mua tất cả nguyên vật liệu và sản xuất hầu hết sản phẩm ngay tại những thị trường bán nguyên vật liệu đó, nghĩa là chỉ sử dụng đồng tiền của quốc gia sở tại, không phải quan tâm đến vấn đề tỷ giá hối đoái. Họ đã thực hiện chuyển lợi nhuận hàng tuần về công ty mẹ (thay vì thông thường là hàng tháng). Tuy nhiên, các bước đi này vẫn chưa đủ vì nó chỉ giúp khắc phục được các nguy cơ bắt nguồn từ các giao dịch thương mại, từ các khoản vay bằng ngoại tệ, nhưng không khắc phục được hoàn toàn nguy cơ rủi ro từ các chi nhánh tại nước ngoài và nguy cơ rủi ro chiến lược. Đây chính là điểm mấu chốt của vấn đề. Mặc dù họ đã thực hiện việc chuyển tiền về công ty mẹ hàng tuần (thay vì hàng tháng) nhưng trong bối cảnh khủng hoảng tiền tệ châu Á đang diễn ra trầm trọng, đồng baht của Thái Lan đã bị thả nổi và bị mất giá hàng ngày, thậm chí hàng giờ so với đồng USD thì việc chuyển tiền hàng tuần vẫn có rất nhiều rủi ro. Công ty mẹ sẽ chỉ nhận được một khoản lợi nhuận ít hơn giá trị thực tế do phải chịu thiệt hại từ sự biến động bất lợi của tỷ giá hối đoái. Với sự mất giá của đồng tiền của các quốc gia sở tại so với đồng USD, Avon đang phải đối đầu với nguy cơ rủi ro chiến lược, hàng hóa của các đối thủ tại chỗ sẽ rẻ hơn, cạnh tranh hơn so với hàng hóa của Avon và như vậy khả năng sinh lợi của Avon sẽ bị suy giảm đáng kể không những ở châu Á mà còn trên toàn thế giới. Hơn thế nữa, việc mua nguyên vật liệu và sản xuất sản phẩm tại chỗ vẫn không hoàn toàn bảo vệ được doanh số và lợi nhuận của công ty; bởi vì ngoài việc mất giá so với đồng USD, đồng baht (và các đồng tiền châu Á khác) còn bị mất giá so với chính nó. Ví dụ, công ty mua 1 tấn nguyên vật liệu trị giá 1 tỷ baht, sản xuất và bán hết sản phẩm sau 2 tháng với doanh số 1,5 tỷ baht, nhưng vào thời điểm thu tiền có thể với 1,5 tỷ baht thu về công ty cũng chỉ mua lại được 1 tấn nguyên vật liệu (do đồng baht sau 02 tháng khủng hoảng đã bị mất giá đến 50% so với chính nó). Từ những dẫn chứng ở trên chúng ta có thể khẳng định được rằng những bước đi thận trọng của Avon tại khu vực châu Á trong giai đoạn khủng khoảng tiền tệ 1997 là hợp lý , đúng hướng, góp phần giảm thiểu các thiệt hại do sự biến động tỷ giá hối đoái gây ra nhưng chưa đủ để bảo vệ doanh số và lợi nhuận của công ty tránh khỏi hoàn toàn sự thiệt hại từ những biến động của thị trường tiền tệ. Có lẽ các nhà quản lý của Avon đã nhanh chóng nhận ra điều đó và có những biện pháp khắc phục khá kịp thời. Đó là: ký các hợp đồng kỳ hạn (15 tháng) với chi phí hơn 3 triệu USD để bảo vệ khoản doanh thu trị giá 40 - 50 triệu USD; thay thế nhà cung cấp (viền đăng ten) châu Âu bằng một công ty địa phương, vay vốn bằng đồng Yên Nhật (do kinh tế suy thoái làm tỷ giá hối đoái xuống thấp) vì chi phí lãi vay thấp hơn nhiều so với chi phí tài trợ vốn bằng thương phiếu ở Mỹ (1% so với 5%); hợp đồng sản xuất đồ trang sức tại Hàn Quốc để bán vào Mỹ để tận dụng việc đồng Won mất giá 25%... Nhờ những biện pháp trên, Avon đã vượt qua giai đoạn khó khăn một cách an toàn thậm chí còn kiếm lợi từ hoàn cảnh đó. Nhưng chúng ta cũng biết rằng, khi tiền tệ có tính bất ổn cao thì chi phí để ký các hợp đồng phòng ngừa rủi ro tiền tệ cũng cao hơn. Nếu Avon ký hợp đồng kỳ hạn sớm hơn (ngay đầu tháng 7-1997 khi đồng baht bị phá giá thay vì cuối tháng 8-1997) khi khủng hoảng chưa thực sự xảy ra thì chi phí sẽ thấp hơn nhiều so với mức hơn 3 triệu USD mà họ đã phải trả, ký hợp đồng bảo hiểm trong thời điểm khủng hoảng đang trở nên tồi tệ nhất, ngoài việc phải trả mức phí cao, các công ty còn phải đối đầu với nguy cơ trả đũa của các Chính phủ nhằm hạn chế sự hỗn loạn ngoài tầm kiểm soát (do xu hướng bầy đàn của các nhà đầu tư muốn chuyển đổi vốn và lợi nhuận sang các loại đồng tiền mạnh và chuyển về chính quốc) bằng một lệnh cấm chuyển tiền ra nước ngoài, cấm rút ngoại tệ ra khỏi ngân hàng như Argentina và Malaysia đã từng làm.

Với những kinh nghiệm quý báu rút ra được từ cuộc khủng hoảng tiền tệ 1997, trong tương lai nếu có thêm một cuộc khủng hoảng tiền tệ nữa ở châu Á, từ kinh nghiệm của Avon, mỗi công ty nên có sự chuẩn bị kỹ lưỡng hơn để ngăn ngừa, hạn chế mọi rủi ro có thể xảy ra. Song  song  với  việc  thực  hiện  những  bước đi thận trọng như họ đã từng làm, tận dụng các cơ hội từ sự rối loạn để vừa tránh được rủi ro, vừa tìm kiếm thêm các khoản lợi nhuận mới. Tuy nhiên, việc lựa chọn các công cụ phòng ngừa rủi ro và thời điểm tiến hành phòng ngừa cũng là một điều phải đặc biệt lưu tâm. Ngay khi phát hiện những dấu hiệu rõ ràng của một cuộc khủng hoảng tiền tệ, mỗi công ty phải tiến hành hàng loạt các biện pháp tự bảo hiểm. Trong các công cụ kiểm soát rủi ro như: Hợp đồng ngoại hối kỳ hạn, quyền chọn mua (bán) tiền tệ và nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ  (SWAP), nếu so với điều kiện thực tế của Avon (chuyển lợi nhuận về Mỹ hàng tuần) thì áp dụng công cụ quyền chọn mua sẽ phù hợp hơn, vì nó linh hoạt hơn hợp đồng kỳ hạn và công ty không thực hiện các khoản vay nợ bằng ngoại tệ nên cũng không cần thiết phải sử dụng công cụ SWAP.

Thảo Nhi

(VP. HĐND - UBND huyện Long Thành)

 

Tin xem nhiều