Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: Vấn nạn ô nhiễm không khí!

09:01, 19/01/2010

Có thể nhiều người sẽ ngạc nhiên trước hình ảnh những chiếc khẩu trang vẫn được đeo ngay cả trên xe buýt. Lý do của hiện tượng "bất thường" này chính là vì không khí đang ô nhiễm đến độ, trên xe buýt đóng kín cửa và có máy lạnh, người ta vẫn cứ cảm thấy không an toàn. Vào bất cứ thời điểm nào trong ngày, thử làm hành khách đón xe dọc các quốc lộ, tỉnh lộ, chúng ta sẽ hiểu ngay mức độ trầm trọng của bụi và các loại khí thải.

Có thể nhiều người sẽ ngạc nhiên trước hình ảnh những chiếc khẩu trang vẫn được đeo ngay cả trên xe buýt. Lý do của hiện tượng "bất thường" này chính là vì không khí đang ô nhiễm đến độ, trên xe buýt đóng kín cửa và có máy lạnh, người ta vẫn cứ cảm thấy không an toàn. Vào bất cứ thời điểm nào trong ngày, thử làm hành khách đón xe dọc các quốc lộ, tỉnh lộ, chúng ta sẽ hiểu ngay mức độ trầm trọng của bụi và các loại khí thải. Nếu đứng từ cầu Sài Gòn ngắm TP.Hồ Chí Minh vào buổi sáng sớm, ta sẽ thấy như có một làn sương mù bao phủ cả thành phố. Đó chính là bụi...

 

* Khí độc tứ bề

 

TP.Hồ Chí Minh, Biên Hòa (Đồng Nai) là những đô thị bị ô nhiễm bụi nặng nhất, gấp 2 - 2,5 lần tiêu chuẩn cho phép. Tại ngã tư Đinh Tiên Hoàng - Điện Biên Phủ (TP.Hồ Chí Minh), nồng độ bụi lên đến xấp xỉ 1,2mg/m3.

 

Mức độ ô nhiễm ôxít cácbon (CO) trong không khí ở các đô thị đang có xu hướng tăng, đặc biệt ở các nút giao thông lớn, nồng độ CO thường cao hơn tiêu chuẩn cho phép (5mg/m3).

 

Kẹt xe và khói bụi là chuyện thường thấy ở TP.HCM.

Báo cáo "Hiện trạng ô nhiễm không khí và công nghệ xử lý ô nhiễm không khí tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam", của Giáo sư - Phó tiến sĩ Lâm Minh Triết và Thạc sĩ Nguyễn Đinh Tuấn (Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh) cho biết, nhiều thông tin rất đáng quan ngại. (Xin xem thêm các box).

 

Chuông báo động đã được một số lớn các nhà khoa học gióng lên: Không khí trong các cao ốc thường đạt đến mức độ ô nhiễm mà luật lệ không cho phép. Nguy hại hơn vì đa số thời gian của phần lớn cư dân lại sống khép kín giữa bốn bức tường, cách ly với thiên nhiên. Đến nay, các cơ quan chức năng cũng như các nhà bảo vệ môi trường đã thấy được vấn đề nhưng chưa có những hành động cụ thể..., còn người dân có vẻ như vẫn xem chuyện ô nhiễm bụi là chuyện bình thường.

 

Do dùng lò gaz, người ta phát hiện ra rằng trong các nhà bếp, lượng oxyde carbone và dioxyde azote thường rất cao so với bên ngoài.

 

Trong xây dựng, người ta thường dùng amiant làm vật liệu ngăn cách hay chống lửa mà ngày nay người ta phát hiện là rất nguy hiểm cho sức khỏe. Bụi của các thớ của vật liệu thâm nhập vào phổi dễ dàng tạo nên bệnh bụi atbet (asbestose) dẫn đến ung thư phế quản. Một tiếp xúc dù ngắn ngủi, sau một thời gian tiềm tàng kéo dài hàng chục năm có thể dẫn đến các khối u ở màng phổi và màng bụng.

 

Máy điều hòa thông khí và máy làm ẩm từ các cao ốc được sử dụng làm văn phòng với các cửa sổ được đóng kín để tiết kiệm năng lượng cũng góp phần truyền bá các chứng bệnh về phổi.

 

* Cần sức mạnh tổng lực

 

Theo một nghiên cứu gần đây của Viện Môi trường và tài nguyên (Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh), không khí ở các đô thị lớn đang bị ô nhiễm trầm trọng, tác động hàng ngày đến sức khỏe cộng đồng. Nguyên nhân chính là do tốc độ gia tăng dân số và hạ tầng kỹ thuật; lượng xe lưu thông tăng nhanh, các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thiếu kiểm soát ô nhiễm; quản lý xây dựng và cải tạo đô thị kém. Khống chế và giảm thiểu ô nhiễm không khí, bảo vệ môi trường không chỉ đơn thuần là kết quả của việc xây dựng, lắp đặt các thiết bị xử lý mà phải là kết quả tổng hợp của nhiều biện pháp khác nhau.

 

Một đoạn đường giữa Biên Hòa và TP. Hồ Chí Minh bị vương vãi đất do xe chở vật liệu xây dựng.

Quan trọng nhất là biện pháp quy hoạch có thể coi là quan trọng hàng đầu nhằm khống chế và giảm thiểu tác hại của ô nhiễm không khí. Việc giải quyết tốt quy hoạch tổng thể ngay từ khi thành lập dự án nhà máy, khu công nghiệp đóng vai trò rất quan trọng. Khi quy hoạch bố trí mặt bằng cho các nhà máy hoặc các khu công nghiệp, ngoài các yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật, giao thông vận tải, mối quan hệ giữa các vùng các bộ phận, dự án nhất thiết phải chú ý đến những vấn đề môi trường theo những yêu cầu phân cụm các nhà máy, khoảng cách bố trí, vị trí bố trí, có  vùng cách ly vệ sinh khu vực.

Hầu hết các ngành công nghiệp đều sử dụng các loại nguyên liệu khác nhau để làm chất đốt nhằm cung cấp năng lượng cho quá trình công nghệ khác nhau. Do đặc điểm kinh tế địa lý, hầu hết các nhà máy ở khu vực TP.Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam đều sử dụng dầu làm nguyên liệu. Nguồn thải do chất đốt dầu (chủ yếu là dầu FO) được coi là nguồn thải quan trọng nhất.

Chỉ riêng Nhà máy điện Hiệp Phước (Nhà Bè) đã tiêu thụ lượng dầu diesel nhiều hơn tổng số phương tiện giao thông của TP.Hồ Chí Minh cộng lại. Vì ống khói nhà máy này cao đến 140m nên không gây ô nhiễm tại chỗ mà bị thổi dạt sang Đồng Nai, Long An. Mỗi giờ nhà máy thải vào khí quyển một khối lượng lớn các chất ô nhiễm như sau:

+ Lưu lượng khói: 3.578.000m³

+ SO2 8.721kg

+ NO2 438kg

+ SO3 108kg

+ Bụi 43kg

 

Bên cạnh đó là các biện pháp quản lý. Các dự án nhà máy, khu công nghiệp tập trung trước khi triển khai thực hiện phải xây dựng báo cáo đánh giá tác động môi trường giải trình các phương án khống chế ô nhiễm môi trường và được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Trong quá trình xây dựng và hoạt động của khu công nghiệp, phải chịu sự giám sát của cơ quan quản lý môi trường.

 

Biện pháp kỹ thuật khống chế ô nhiễm không khí cũng có vai trò quan trọng. Để khống chế và giảm thiểu ô nhiễm không khí phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau, bao gồm biện pháp công nghệ,  quản lý và vận hành công nghệ, sử dụng cây xanh để hạn chế ô nhiễm không khí.

 

Môi trường không khí ở TP.Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm đã bị ô nhiễm do các hoạt động của công nghiệp. Mức độ ô nhiễm có xu hướng tăng lên rất nhanh. Mặc dù các hệ thống xử lý khí thải đã phát huy tác dụng và góp phần đáng kể trong việc khống chế, giảm thiểu ô nhiễm không khí, nhưng vẫn cần có sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan quy hoạch, xét duyệt, quản lý và công nghệ thì mới có thể khống chế và đảm bảo môi trường không khí đến mức tiêu chuẩn cho phép và xã hội chấp nhận.

 

Cứu bầu không khí chính là cứu lấy cuộc sống của chính chúng ta!

 

Các loại nguyên liệu khác cũng gây ô nhiễm không khí đáng kể như than đá, vỏ hạt điều. Bên cạnh đó là khí thải từ công nghiệp luyện kim. Nguồn gây ô nhiễm không khí chủ yếu của các nhà máy luyện thép là khói thải từ lò hồ quang. Lượng khí thải này được ước tính với lưu lượng là 50.000m3/h cho lò hồ quang. Khí thải chứa chủ yếu là bụi với hệ số ô nhiễm là 20-30kg/tấn sản phẩm.

Khói thải từ các lò đúc nấu kim loại dạng thủ công còn chứa các chất ô nhiễm như SO2, CO, NO2, bụi, CxHy.

Khí thải từ công nghiệp hóa chất cũng góp phần quan trọng làm ô nhiễm không khí. Các nhà máy sản xuất bột giặt, chất tẩy rửa, sản xuất hóa chất với công suất hàng ngàn tấn/năm là nguồn gây ô nhiễm không khí mà chủ yếu là khí SO2, CI, HCI...

Các nhà máy gia công bề mặt kim loại cũng góp phần không nhỏ làm không khí khu vực Đông Nam bộ ngày càng tụt dốc. Đáng kể nhất là các nhà máy mạ kẽm bằng phương pháp nhúng nóng với công suất hàng trăm ngàn tấn/năm. Quá trình hoạt động của các nhà máy này tạo ra khí thải với chất ô nhiễm là bụi, khí HCI, khí NH3.

Anh Thơ

 

 

 

 

 

Tin xem nhiều