Báo Đồng Nai điện tử
Hotline: 0915.73.44.73 Quảng cáo: 0912174545 - 0786463979
En

GS.TS Bùi Chí Bửu: Mong rằng sẽ tiếp tục có một thế hệ vàng trong nông nghiệp

11:02, 14/02/2014

Sinh ra và lớn lên ở vùng lúa An Giang, từ nhỏ, GS.TS Bùi Chí Bửu, Phó giám đốc Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, Viện trưởng Viện Khoa học - kỹ thuật nông nghiệp miền Nam đã ấp ủ khát vọng làm gì đó cho người nông dân bớt khổ.

Sinh ra và lớn lên ở vùng lúa An Giang, từ nhỏ, GS.TS Bùi Chí Bửu, Phó giám đốc Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, Viện trưởng Viện Khoa học - kỹ thuật nông nghiệp miền Nam đã ấp ủ khát vọng làm gì đó cho người nông dân bớt khổ. Khi lớn lên, ông quyết định học ngành nông nghiệp và theo đuổi ngành di truyền - chọn giống cho đến bây giờ.

* Nhiều người cho rằng, việc lưu hành quá nhiều giống lúa đã làm nông dân phân vân, dẫn đến “loạn giống”. Ý kiến của ông ra sao?

- Nói “loạn giống” lúa là không chính xác. Có khoảng 60-90 giống lúa tại miền Nam, song chỉ có 4-6 giống chủ lực (giống chủ lực là giống chiếm 10% diện tích trở lên, khoảng 200-300 ngàn hécta). Nhìn ở khía cạnh khác, điều này lại tạo nên một sự đa dạng di truyền rất tốt. Năm 2012, Thái Lan mất mùa nghiêm trọng bởi chỉ sử dụng 2 giống lúa Pathumthani 1 và RD6, khi bị rầy nâu tấn công khó chống đỡ, diện tích bị nhiễm lên đến 40%, trong khi đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) rất ít khi quá ngưỡng 10%. Miền Nam trước năm 1975 có khoảng 1.800 giống lúa địa phương được sưu tập, và hiện diện trong sản xuất 5-6 trăm giống. Điều này có ích trong thực tế phòng trừ sâu bệnh, do đó mà dịch bệnh Việt Nam chưa bao giờ phát triển thành vùng lớn. Không nên hoang mang vì xét về mặt khoa học thì đây là điều hoàn toàn tốt.

* Thu nhập nông dân ở vựa lúa ĐBSCL được cho là quá thấp, dù Việt Nam vẫn ở trong top đầu xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới. Vì sao?

- Khó khăn lớn nhất là thiếu liên kết trong chuỗi giá trị. Nông dân sản xuất sản phẩm qua quá nhiều công đoạn: thương lái, đầu nậu, chế biến, xuất khẩu… gây nên chênh lệch giá quá lớn, bất công cho người nông dân. Thêm vào đó, hạt gạo Việt Nam không có thương hiệu. Trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ hiện tại, nông dân chỉ hưởng từ 11-13%. Khi liên kết các chuỗi lại, thực hiện thông qua cánh đồng mẫu lớn thì con số này lên đến 30%.

* Theo ông, lỗi “không có thương hiệu” là do khâu nào? Và liệu có phải do quá khó khăn nên hàng chục năm chúng ta kêu gọi ngành nông nghiệp tạo nên các chuỗi giá trị, đến nay vẫn chưa ổn?

-  Lỗi “không có thương hiệu” ở hạt gạo Việt Nam có lẽ nằm ở các doanh nghiệp lớn. Nếu doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu gạo với “chiến lược kinh doanh từ hạt lúa”, bằng cách chọn lựa, chăm chút, đầu tư từ hạt giống, lúc đó hạt gạo bán ra mới có thương hiệu. Còn nếu chỉ xuất khẩu “từ hạt gạo” thì mọi chuyện đã hoàn toàn khác. Mua lúa của hàng ngàn hộ với nhiều giống khác nhau thì làm sao tạo nên thương hiệu gạo?

Cái khó nằm ở chỗ ruộng đồng của người nông dân quá manh mún. Thực tế không có doanh nghiệp nào có khả năng ký hợp đồng với hàng ngàn nông dân cả. Nếu nông dân tự liên kết trước, tạo thành những vùng sản xuất lớn, tự chọn giống thống nhất thì doanh nghiệp dễ dàng hơn nhiều trong việc ký hợp đồng. Chạm đến vấn đề này, thì lại phải bàn sang một vấn đề nhức nhối khác, đó là hoạt động của hệ thống hợp tác xã. Thực tế, các nước có ngành nông nghiệp phát triển đều có những hợp tác xã hoạt động rất hiệu quả. Ví dụ: Đài Loan, Nhật hay Hàn Quốc, đất đai manh mún gấp nhiều lần, nhưng nông nghiệp vẫn vượt trội nhờ mô hình hợp tác xã kiểu mới (liên kết chuỗi giá trị ngành hàng; sản xuất, phân phối, tín dụng...).

* Thực tế Việt Nam vẫn có cả hệ thống hợp tác xã với quy định hoạt động riêng. Vì sao vẫn chưa thành công, thưa ông?

- Đừng khoác lên cho hợp tác xã những trách nhiệm quá nặng nề về mặt xã hội. Hãy hiểu đó chỉ là một cách hoạt động dựa trên sự liên kết giữa những người nông dân với nhau, để sử dụng các công cụ: lãi suất, vay vốn, mua nguyên liệu đầu vào… một cách có lợi nhất, và họ sẽ được chia “cổ tức” một cách hợp lý thông qua thành quả, như các nước phát triển vẫn làm.

* Nhiều năm liền Việt Nam vẫn xuất khẩu gạo giá rẻ với lợi nhuận và mức giá trung bình, Việt Nam có nên chú trọng hơn đến các loại gạo thơm giá cao hơn?

- Chúng ta không nên chen vào cánh cửa quá hẹp đó. Thị trường gạo thơm không rộng. Chúng ta cần tận dụng lợi thế là gạo trắng hạt dài, dễ sản xuất và thị trường rộng. Vấn đề của Việt Nam là phải làm nên thương hiệu cho hạt gạo.

* Vậy theo ông, tư duy làm nông nghiệp chuyên nghiệp để tạo nên thương hiệu gạo là gì?

- Phải liên kết sản xuất lớn để giảm giá thành tối đa.

  Nhiều người quan ngại khi Việt Nam gia nhập và đàm phán các hiệp định kinh tế đa phương, ví dụ như TPP (Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương) trong khi ngành nông nghiệp vẫn chưa “khỏe” thực sự. Ông nghĩ thế nào?

- Không vào TPP là không được. Còn kịp hay không thì rất khó nói. Điều này tùy thuộc vào quyết sách của chính quyền. Chúng ta thiếu những rào cản kỹ thuật, ngay cả khi đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) nhiều năm. Cần sớm có những rào cản thích hợp không phải chỉ bằng cạnh tranh giá, thậm chí sẽ phạm nguyên tắc của tổ chức quốc tế. Điều đáng ngại là nhiều nước đã có rào cản kỹ thuật (chỉ tiêu về kiểm tra dịch tể...) rất tinh vi.

Tuy vậy, theo tôi thì không thể không tham gia, dù trước mắt có thiệt thòi.

* Ông nhắc đến một “thế hệ vàng” trong nông nghiệp khi đưa đất nước từ đói ăn lên xuất khẩu nông sản nhảy vọt. Vậy “thế hệ vàng” đó đến nay ra sao và đã chuyển giao cho lớp trẻ thế nào?

Bền bỉ cống hiến cho vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long hàng chục năm nay, năm 2010, đề tài “Chọn tạo giống lúa cho đồng bằng sông Cửu Long” của GS.TS Bùi Chí Bửu được trao giải thưởng Nhân tài Đất Việt dành cho lĩnh vực khoa học tự nhiên. Ông cho biết, nếu như sản lượng đồng bằng sông Cửu Long vào năm 1975 là 4 triệu tấn, thì ngày nay đã tăng gấp 5-6 lần, đạt 24 triệu tấn, xuất khẩu lúa gạo vào hàng đầu thế giới. Để làm được điều đó, cả một thế hệ cán bộ nông nghiệp đã miệt mài cống hiến. Xã hội qua nhiều thăng trầm, nghề nông không được giới trẻ trọng dụng suốt một thời gian dài gây nhiều thiếu hụt. GS.TS Bùi Chí Bửu nói, ông mong rằng trong những năm tới, Việt Nam có thể gây dựng tiếp tục một thế hệ “vàng” trong nông nghiệp.

- Đó là một điều rất đáng buồn. Chúng ta đã lơ là quá lâu, dẫn đến đầu vào của ngành nông nghiệp nhiều năm qua kém. Khi người trẻ chạy theo những ngành thời thượng, như: tin học, kinh tế, tài chính, ngoại thương… thì có những năm, đầu vào của ngành nông nghiệp, tại các trường chưa nổi 10 điểm cho 3 môn. Trong ngành nông nghiệp, chúng tôi gọi những người tốt nghiệp những năm 1970-1980 là “thế hệ vàng” với việc đưa một quốc gia từ nhập khẩu lương thực sang một nước xuất khẩu nông sản nổi đình nổi đám. Thế hệ đó nay đã và đang dần lui về phía sau do tuổi tác.

Tuy nhiên, tôi nghĩ là thanh niên Việt Nam đủ sức gầy dựng nên một thế hệ vàng tiếp theo trong nông nghiệp, song chúng ta phải chăm chút thật sự, để tâm huyết vào đó rất nhiều.

* Lỗi nằm ở giới trẻ hay nằm ở những người đi trước khi sự chuyển giao thiếu liên tục, thưa ông?

- Có lẽ lỗi nằm ở chúng tôi, khi đã không truyền cho các em nhận thức đủ đầy về những vinh quang của ngành nông nghiệp. Song, quá trình tự nhận thức, tự học hỏi của các em sẽ khắc phục được điều đó, vì cánh cửa của nghề nông này càng mở rộng: công nghệ sinh học, kinh tế nông nghiệp…

* Điều gì khiến những người như ông theo đuổi được nghề một cách lâu dài?

- Phải quan niệm làm nông nghiệp là làm nên sự no ấm cho mọi người, thấy đó là hạnh phúc thì mới theo lâu được. Lớp trẻ cũng có nhiều người nhận thức được điều đó. Tôi mừng là từ 2006 đến nay, đầu vào ngành nông nghiệp đã tốt hơn nhiều. Song, cũng cần chú ý, nhiều sinh viên giỏi ra trường lại ngại lao vào nghiên cứu, lặn lội, thay vào đó đi bán thuốc thú y hoặc tiếp thị thức ăn chăn nuôi nhập khẩu, dẫn đến sự lệch pha trong ngành, ví dụ, chuyên gia về nấm mốc ngày càng hiếm vì chẳng ai chịu học.

* Xin cảm ơn ông!

Kim Ngân (thực hiện)

 

 

 

Tin xem nhiều