Báo Đồng Nai điện tử

Dấu ấn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Báo Nhân dân
13:09, 18/01/2026

Nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng ghi dấu những chuyển biến quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong đó công nghiệp hóa, hiện đại hóa là trục xuyên suốt.

Máy bay không người lái giúp nông dân Lâm Đồng tiết kiệm chi phí và bảo vệ sức khỏe. Ảnh: Lê Giang Nam
Máy bay không người lái giúp nông dân Lâm Đồng tiết kiệm chi phí và bảo vệ sức khỏe. Ảnh: Lê Giang Nam

Quá trình này không chỉ thể hiện qua đầu tư hạ tầng, máy móc, công nghệ mà còn ở sự đổi mới căn bản cách thức tổ chức sản xuất gắn chặt với chế biến và tiêu thụ; phân bổ nguồn lực theo tín hiệu thị trường và phát huy lợi thế vùng.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng mở rộng không gian phát triển nông nghiệp theo hướng đa ngành, đa giá trị. Nhờ vậy vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế được nâng lên rõ rệt, từ chức năng chủ yếu cung cấp nguyên liệu sang tạo giá trị gia tăng và đóng góp lớn vào thặng dư thương mại quốc gia.

Hiện đại hóa toàn bộ chuỗi giá trị

Nghị quyết số 19-NQ/TW (ngày 16-6-2022) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo đó, đặt ra yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, chuyên canh hàng hóa tập trung, quy mô lớn; bảo đảm an toàn thực phẩm dựa trên nền tảng ứng dụng khoa học-công nghệ tiên tiến, chuyển đổi số, cơ giới hóa, tự động hóa...

Chính vì thế, ngay từ khâu sản xuất, ngành nông nghiệp đã tập trung tổ chức lại thông qua xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung gắn với quy hoạch ngành hàng, nhu cầu thị trường và yêu cầu xuất khẩu. Theo Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, sau 4 năm triển khai “Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giai đoạn 2022-2025”, tổng diện tích vùng nguyên liệu tại các tỉnh, thành phố tham gia đạt gần 170.000 ha, tăng khoảng 20% so với trước khi triển khai.

Đáng chú ý, hơn 71% diện tích có liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp, phản ánh sự dịch chuyển rõ rệt từ sản xuất phân tán sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường. Khi vùng trồng đạt quy mô đủ lớn và được tổ chức đồng bộ, chi phí vận chuyển hàng hóa tại nhiều địa phương giảm 20-30%; năng suất cây trồng tăng trung bình 10-15%; giá trị sản xuất trên mỗi ha tăng khoảng 20-25%... Song song với tổ chức lại sản xuất, hạ tầng phục vụ vùng nguyên liệu được đẩy mạnh đầu tư, tạo điều kiện để quá trình hiện đại hóa diễn ra đồng bộ...

Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam khẳng định: Đề án đã góp phần quy hoạch rõ các vùng nguyên liệu chủ lực, tạo nền tảng quan trọng để doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư, hình thành các chuỗi liên kết ổn định. Trên cơ sở vùng nguyên liệu được chuẩn hóa, khâu chế biến tiếp tục được xác định là động lực then chốt để nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của nông sản.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với các địa phương hỗ trợ đầu tư mới và mở rộng công suất các cơ sở chế biến. Bên cạnh mạng lưới doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhiều tập đoàn lớn tiếp tục đầu tư, tạo bước chuyển rõ nét về năng lực chế biến và xuất khẩu. Giai đoạn 2021-2025, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 7-8%/năm. Đến nay, cả nước có gần 8.000 cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu cùng khoảng 22.000 cơ sở chế biến nhỏ phục vụ thị trường nội địa. Tổng công suất chế biến đạt hơn 160 triệu tấn nguyên liệu/năm, trong đó công suất thực tế đạt khoảng 120-130 triệu tấn.

Giai đoạn 2021-2025, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 7-8%/năm. Đến nay, cả nước có gần 8.000 cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu cùng khoảng 22.000 cơ sở chế biến nhỏ phục vụ thị trường nội địa.

Cùng với mở rộng quy mô, cơ cấu sản phẩm cũng chuyển dịch theo hướng nâng cao giá trị gia tăng. Tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu tăng từ khoảng 20% năm 2020 lên hơn 30% vào năm 2025; tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch giảm bình quân khoảng 1% mỗi năm, hiện còn dưới 20%. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa được triển khai đồng bộ trong toàn chuỗi đã tạo nền tảng quan trọng cho xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng trưởng ấn tượng.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến, năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2024 và đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Trong đó, các mặt hàng nông sản đạt 37,25 tỷ USD, tăng 13,7%; sản phẩm chăn nuôi đạt 628 triệu USD, tăng 17,4%; thủy sản đạt 11,32 tỷ USD, tăng 12,7%; lâm sản đạt 18,5 tỷ USD, tăng 6,6%. Cán cân thương mại nông, lâm, thủy sản tiếp tục duy trì xuất siêu, đạt gần 21 tỷ USD. Những con số này không chỉ cho thấy quy mô xuất khẩu mở rộng mà còn phản ánh sự nâng cấp vị thế của nông nghiệp trong nền kinh tế.

Hình thành đội ngũ "Nông dân số" chuyên nghiệp

Cùng với hiện đại hóa chuỗi giá trị, sự chuyển biến về tư duy và vai trò của nông dân là biểu hiện quan trọng cho chiều sâu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Điều này phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định nông dân là chủ thể, trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới; gắn xây dựng giai cấp nông dân với phát triển nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn.

Theo ông Nguyễn Anh Phong, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, hiện nay mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tối đa đất đai và thâm canh đã tiệm cận giới hạn, không còn nhiều dư địa để đột phá. Muốn nâng cao chất lượng tăng trưởng đòi hỏi phải tri thức hóa nông dân, xây dựng lực lượng nông dân trở thành chủ thể ứng dụng khoa học-công nghệ và đóng vai trò nòng cốt trong nền nông nghiệp hiện đại. Trong bối cảnh ấy, sự xuất hiện ngày càng rõ nét của những “nông dân số” chính là dấu ấn tiêu biểu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Cầm trên tay chiếc điện thoại thông minh, anh Võ Thanh Hải, nông dân xã Mỹ Quí, tỉnh Đồng Tháp thuần thục tra cứu lịch thời vụ, giá vật tư đầu vào, giá lúa tươi tại ruộng, thậm chí cả diễn biến giá gạo xuất khẩu theo ngày. “Chúng tôi được tập huấn sử dụng các ứng dụng công nghệ phục vụ sản xuất và theo dõi thị trường để chủ động hơn trong quyết định xuống giống, chăm sóc và tiêu thụ lúa”, anh Hải chia sẻ.

Cũng từ sự thay đổi tư duy, anh Nguyễn Ngọc Huấn ở xã Thạnh An, thành phố Cần Thơ không chỉ làm chủ các loại máy móc hiện đại như máy cấy, máy gặt, máy phân loại hạt giống mà còn nắm vững quy trình sản xuất lúa giống, trực tiếp tham gia sản xuất thành công lúa giống siêu nguyên chủng được Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long ký hợp đồng thu mua hằng năm.

Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh của hạ tầng internet nông thôn đang từng bước hình thành đội ngũ nông dân kinh tế số và thương mại điện tử. Internet đã thật sự trở thành “hạ tầng mềm” của sản xuất nông nghiệp, giúp nông dân mở rộng thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm.

Báo Nhân dân