Những điều cần biết về bệnh lao ở trẻ em

Cập nhật lúc 22:13, Chủ Nhật, 14/04/2019 (GMT+7)

Mặc dù trẻ khi sinh ra đều được tiêm vaccine phòng bệnh lao nhưng trên thực tế vẫn có một số trẻ bị nhiễm bệnh do bỏ sót không tiêm chủng hoặc tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ nhiễm bệnh.

Thăm khám phát hiện sớm bệnh lao cho bệnh nhi ở Trung tâm y tế huyện Nhơn Trạch
Thăm khám phát hiện sớm bệnh lao cho bệnh nhi ở Trung tâm y tế huyện Nhơn Trạch

Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Mỹ được công bố trên Tạp chí y học Lancet cho thấy hiện có khoảng 1 triệu trẻ em trên toàn thế giới mắc bệnh lao (có 40% số trẻ nhiễm lao ở các nước Đông Nam Á, 28% ở các nước châu Phi), trong đó 32 ngàn trẻ bị nhiễm lao kháng thuốc.

* Lao ở trẻ - mối nguy khó biết

Ho, sốt, mệt mỏi, biếng ăn là dấu hiệu thường thấy khi trẻ ốm và thường bị nhầm lẫn là trẻ bị cảm cúm thông thường. Đôi khi trẻ khó thở, bác sĩ cũng có thể chẩn đoán trẻ bị hen. Trong nhiều trường hợp, cha mẹ, thậm chí bác sĩ không nghĩ rằng trẻ đang bị lao, bởi vì những triệu chứng này cũng có thể là các triệu chứng của lao.

Lao ở trẻ khác với người lớn: đa số trẻ khi xét nghiệm đờm chỉ có khoảng 10-15% dương tính, ngoài ra có những triệu chứng lao ở trẻ giống như viêm phổi nên có khi bị chẩn đoán nhầm là viêm phổi.

Có những trẻ dễ bị nhiễm lao hơn so với các trẻ khác, đó là những trẻ sống trong điều kiện nghèo đói; trẻ quá nhỏ tuổi (trẻ dưới 2 tuổi rất dễ bị nhiễm các loại lao nặng); suy dinh dưỡng; trẻ sơ sinh suy dinh dưỡng và có nhiễm HIV. Trẻ nhiễm HIV có nguy cơ nhiễm lao cao hơn 20 lần so với bình thường và là nguyên nhân thứ 3 dẫn đến tử vong ở trẻ bị nhiễm HIV.

* Những dạng lao ở trẻ em

Lao khởi đầu (lao sơ nhiễm): Gặp nhiều nhất, xảy ra ở trẻ dưới 14 tuổi (thường xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi) và chưa được chủng ngừa BCG. Thường trẻ không có triệu chứng hoặc có triệu chứng của cảm cúm thoáng qua như: sốt, mệt mỏi… Một số trường hợp diễn tiến nhẹ và tự khỏi nếu trẻ có sức đề kháng tốt.

Lao cấp tính: Lao màng não, lao kê cấp tính là 2 biến chứng nặng và sớm của lao sơ nhiễm, dễ đưa đến tử vong nếu không biết và để lại di chứng trầm trọng nếu chẩn đoán trễ. Bệnh xảy ra ở các lứa tuổi, nhưng nhiều nhất ở trẻ không chủng ngừa BCG.

Lao màng não: Xảy ra từ 2-12 tháng sau lao sơ nhiễm, báo hiệu với triệu chứng sốt nhẹ, thay đổi tính nết. Sau đó 1 tuần sốt 38OC, nhức đầu, ói mửa, khám thấy có cứng cổ và đôi khi có dấu hiệu tổn thương thần kinh, co giật, hôn mê, lé mắt, động kinh, sụp mí mắt. Nếu điều trị muộn sẽ để di chứng nặng như: di chứng tâm thần (thiểu năng trí tuệ, rối loạn tính tình, động kinh), yếu liệt nửa người, tay chân co rút, mù mắt, điếc…

Lao kê: Là lao cấp ở phổi, xuất hiện trong những tuần lễ đầu sau lao sơ nhiễm với triệu chứng sốt cao, mạch nhanh, ói mửa, đau bụng, tiêu chảy, và luôn có dấu hiệu hô hấp (khó thở, tím tái). Trẻ bị lao kê thường dễ dẫn đến lao màng não.

Lao đường hô hấp: Lao màng phổi và phổi thường gặp ở trẻ lớn, gần tuổi dậy thì hơn là trẻ nhỏ. Thường có triệu chứng ho kéo dài, sốt nhẹ, sụt cân, ăn uống kém…

Lao ngoài phổi: Thường là biến chứng chậm hơn sau lao sơ nhiễm. Có nhiều dạng lao ngoài phổi như: lao cột sống (giai đoạn đầu thường trẻ có biểu hiện đau vùng cột sống rồi từ từ gù lưng); lao xương, khớp (trẻ bị sưng đau khớp và chảy mủ ở xương khớp dò ra ngoài da); lao hệ niệu (trẻ đi tiểu ra máu, thường có kèm theo sưng tinh hoàn); lao hạch (nổi hạch thường từng chùm, dính nếu để trễ sẽ gây dò mủ làm sẹo xấu); lao ruột (đi tiêu lỏng hoặc đi tiêu ra đàm, máu kéo dài).

* Chẩn đoán xác định bệnh lao ở trẻ em

Bệnh lao ở trẻ em chiếm tỷ lệ 10-15% các trường hợp mắc mới mỗi năm. Bệnh lao do vi khuẩn lao mycobacterium tuberculosis gây nên. Thể bệnh lao phổi khá phổ biến, chiếm tỷ lệ cao và là nguồn lây bệnh chính cho những người ở chung quanh; ngoài ra thể bệnh lao ngoài phổi cũng cần được lưu ý phát hiện. Chẩn đoán bệnh lao dựa vào:

Tiền sử: xem xét trẻ có tiếp xúc gần gũi với người mắc bệnh lao phổi trong thời gian khoảng 1-2 năm gần đây, có các triệu chứng lâm sàng nghi lao đã được điều trị nhưng triệu chứng không thuyên giảm hoặc ít cải thiện và nhanh tái phát.

Triệu chứng lâm sàng nghi lao: sốt, ra mồ hôi đêm, mệt mỏi, giảm chơi đùa, chán ăn, không tăng cân hay sụt cân, suy dinh dưỡng.... Các triệu chứng thường kéo dài trên 2 tuần và không cải thiện với những liệu pháp điều trị khác ngoài lao.

Cận lâm sàng chẩn đoán bệnh lao gồm có: phim chụp X-quang ngực, xét nghiệm tìm vi khuẩn lao (từ đờm, dịch dạ dày, dịch các màng, dịch phế quản, dịch não tủy, mủ hạch, phân, mủ áp-xe...), chụp ảnh cắt lớp vi tính CT-scan...

* Phòng bệnh lao cho trẻ

Thuốc chủng ngừa duy nhất hiện đang có sẵn cho bệnh lao là vaccine BCG. Tuy nhiên, BCG chỉ tạo sự bảo vệ đến khi trẻ 15 tuổi và không an toàn khi sử dụng ở trẻ em sống chung với HIV. Do đó, trẻ em đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi hay trẻ có cơ địa suy giảm miễn dịch (suy dinh dưỡng, nhiễm HIV...) cần được tầm soát và điều trị dự phòng bệnh lao khi có tiếp xúc với người bệnh lao. Việc dự phòng lao có thể giảm 70-80% khả năng bị bệnh lao cho trẻ.

Các bậc phụ huynh hãy đưa con em đi tiêm phòng vaccine BCG theo chương trình tiêm chủng mở rộng; phát hiện và điều trị sớm những người trong gia đình bị bệnh lao, tránh cho trẻ tiếp xúc với nguồn lây lao; giữ gìn sức khỏe cho trẻ, cho trẻ ăn đủ chất để chống suy dinh dưỡng; giữ gìn môi trường sống tốt, nhà cửa thoáng mát, sạch sẽ...

Trong gia đình có người bị lao thì cách ly trẻ, không nên tiếp xúc gần gũi với trẻ (như hôn hít). Khi trẻ có triệu chứng nghi bị lao (ho sốt kéo dài, sụt cân hoặc không lên cân, ra mồ hôi trộm...) cần đưa ngay đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám và điều trị đúng theo phác đồ của chương trình chống lao quốc gia, đảm bảo theo nguyên tắc DOST (hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát).

TS-BS.Nguyễn Trọng Nơi

(Bệnh viện nhi đồng Đồng Nai)

.
.
;
.
.