Thế nào là hàng Việt?

Cập nhật lúc 22:39, Thứ Hai, 12/08/2019 (GMT+7)

Với nhiều tranh luận xung quanh vấn đề “thế nào là hàng Việt”, vừa qua Bộ Công thương đã lấy ý kiến góp ý cho dự thảo thông tư “quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam”.

Quy trình sản xuất trứng gà hiện đại tại Công ty TNHH thương mại dịch vụ, sản xuất và chăn nuôi Thanh Đức (huyện Xuân Lộc). Ảnh: H.Hải
Quy trình sản xuất trứng gà hiện đại tại Công ty TNHH thương mại dịch vụ, sản xuất và chăn nuôi Thanh Đức (huyện Xuân Lộc). Ảnh: H.Hải

TIN LIÊN QUAN
Dự thảo của Bộ Công thương có 4 chương, 16 điều, được xây dựng chủ yếu dựa trên các bộ quy tắc xuất xứ hiện đang áp dụng cho hàng xuất khẩu từ Việt Nam, trong đó có Nghị định số 31/2018 quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa.

* Cụ thể một số khái niệm

Theo dự thảo thông tư, hàng hóa được coi là hàng hóa của Việt Nam khi có xuất xứ thuần túy (WO) hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam. Đại diện cho khái niệm này chủ yếu là các mặt hàng được gieo trồng và thu hoạch tất tần tật tại Việt Nam, chẳng hạn như trong lĩnh vực nông sản, thủy sản.

Bên cạnh đó, hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam nhưng trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng tại Việt Nam và đảm bảo 2 tiêu chí về chuyển đổi mã số (mã HS) và hàm lượng giá trị gia tăng... cũng được xem là hàng Việt Nam.

Cụ thể, để được xem là hàng “made in Vietnam”, tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng nội địa của sản phẩm đạt từ 30%. Còn tiêu chí “chuyển đổi mã số HS” cho phép doanh nghiệp có thể sử dụng 100% nguyên liệu nhập khẩu hoặc không xác định về xuất xứ trong quá trình sản xuất, miễn là quy trình đó vượt qua công đoạn gia công đơn giản.

Quy định của thông tư cho phép tùy thuộc vào quá trình sản xuất, gia công, chế biến, tổ chức, cá nhân có thể lựa chọn và chỉ sử dụng một trong các cụm từ  “sản phẩm của Việt Nam” hoặc “sản phẩm Việt Nam”; “hàng hóa của Việt Nam” hoặc “hàng hóa Việt Nam”, hoặc “hàng Việt Nam”; “sản xuất tại Việt Nam” hoặc “Việt Nam sản xuất”; “chế tạo tại Việt Nam” hoặc “Việt Nam chế tạo”; “chế tác tại Việt Nam” hoặc “Việt Nam chế tác”... để thể hiện là hàng hóa của Việt Nam trên nhãn hàng hóa, hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa đó.

* Gia công, chế biến đơn giản không tính là “made in Vietnam”

Cũng theo dự thảo thông tư này, các công đoạn gia công, chế biến sau đây khi được thực hiện riêng rẽ hoặc kết hợp với nhau được xem là đơn giản. Hàng hóa không có xuất xứ Việt Nam, nếu chỉ trải qua một hoặc kết hợp nhiều công đoạn này, không được coi là hàng hóa của Việt Nam: các công việc bảo quản hàng hóa trong quá trình vận chuyển và lưu kho; các công việc như lau bụi, sàng lọc, chọn lựa, phân loại, lau chùi, sơn, chia cắt ra từng phần; thay đổi bao bì đóng gói và tháo dỡ hay lắp ghép các lô hàng; đóng chai, lọ, đóng gói, bao, hộp và các công việc đóng gói bao bì đơn giản khác.

Hoạt động dán lên sản phẩm hoặc bao gói của sản phẩm các nhãn hiệu, nhãn, mác hay các dấu hiệu phân biệt tương tự; trộn đơn giản các sản phẩm, dù cùng loại hay khác loại; lắp ráp đơn giản các bộ phận của sản phẩm để tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh; giết, mổ động vật.

Ngoài ra, hàng tạm nhập tái xuất, hàng quá cảnh Việt Nam không được coi là hàng “made in Vietnam”. Thông tư này không áp dụng cho hàng xuất khẩu và không áp dụng cho hàng nhập khẩu đã có nhãn mác ghi nhãn thể hiện xuất xứ không phải xuất xứ Việt Nam.

Theo Bộ Công thương, khi thực thi, thông tư sẽ không làm phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp bởi ghi nhãn hàng hóa và công bố nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa là yêu cầu bắt buộc theo quy định ban hành trước đó.

Ông Vũ Đình Trung, Phó chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo thực hiện cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam tỉnh (Ban Chỉ đạo 264 tỉnh) cho rằng, việc Bộ Công thương ban hành dự thảo thông tư “quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam” là cần thiết, tạo điều kiện cho người tiêu dùng, các tầng lớp nhân dân có thêm căn cứ để nhận biết hàng Việt.

Ông Vũ Đình Trung đề xuất dự thảo nên nâng cao tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng nội địa của sản phẩm đạt từ 30%, tỷ lệ về nguyên liệu, linh kiện được sản xuất trong nước… Đồng thời, công tác tuyên truyền về hàng Việt, các quy định về hàng “made in Vietnam” cần được phổ biến rộng rãi hơn đến người dân và các doanh nghiệp sản xuất...

Lam Phương

 

 

.
.
;
.
.