Du lịch Đồng Nai: Bí ẩn của Mộ cự thạch Hàng Gòn

Cập nhật lúc 08:13, Thứ Năm, 09/11/2017 (GMT+7)

Mộ cự thạch Hàng Gòn (xã Hàng Gòn, TX.Long Khánh) là một trong những di tích được xếp  hạng cấp quốc gia sớm nhất vào năm 1982. Đồng thời, năm 2015 Mộ cự thạch Hàng Gòn được Chính phủ công nhận là di tích cấp quốc gia đặc biệt. Đây cũng là một trong những điểm đến nổi bật trong tour du lịch cửa ngõ phía Đông của Đồng Nai.

Mộ cổ Hàng Gòn.
Mộ cổ Hàng Gòn.

Theo Sở Văn hóa - Thể thao  và du lịch, Mộ cự thạch Hàng Gòn là một trong 10 di tích cấp quốc gia quan trọng của Nam bộ. Năm 1927, khi mở tuyến đường giao thông từ Long Khánh đi Bà Rịa, kỹ sư người Pháp Jean Bouchot đã phát hiện một ngôi mộ bằng đá nằm trong địa phận đồn điền cao su thuộc xã Hàng Gòn.

Sau đó, được sự đồng ý của Trường Viễn Đông Bác Cổ, ông Jean Bouchot chủ trì việc khai quật di chỉ vào mùa mưa năm 1927. Kết quả khai quật đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và người dân.

* Nền văn minh lưu vực sông Đồng Nai

Nằm cách TP.Biên Hòa hơn 50km về phía Đông, di tích Mộ cự thạch Hàng Gòn hơn 2 ngàn năm qua đã góp phần làm rõ hơn nhiều vấn đề về văn minh lưu vực cổ sông Đồng Nai. Qua năm tháng, kiến trúc mộ cự thạch, hình thức tín ngưỡng liên quan dân cư cổ vẫn là một sự bí ẩn hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu.

Sau gần 1 thế kỷ phát hiện được đến nay, Mộ cự thạch Hàng Gòn vẫn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, khảo cổ và khách tham quan trong và ngoài nước. Các nhà khoa học đánh giá, đây là một di tích độc đáo về nghệ thuật và kỹ thuật của người cổ Nam Á nói chung và người Việt cổ nói riêng.

Mộ cự thạch Hàng Gòn là một dạng hầm mộ hình chữ nhật dài 4,2m, ngang 2,7m, cao 1,6m được ghép bởi 6 tấm đá hoa cương được bào khá nhẵn ở mặt ngoài. Trong đó, 4 tấm đá thẳng đứng dùng làm vách, 2 tấm nằm ngang dùng làm mặt đáy và nắp đậy nặng khoảng 40-50 tấn. Các phiến đá ghép với nhau theo hệ thống rãnh đục làm nắp và phiến đá làm đáy, phần lớn các đầu trụ được khoét lõm hình yên ngựa.

Theo các nhà khảo cổ, các loại đá làm mộ chỉ có ở Đà Lạt hoặc Phan Rang. Di chỉ khảo cổ Mộ cự thạch Hàng Gòn thuộc loại hình dolmen có kiến trúc độc đáo, quý hiếm không những ở Việt Nam mà còn ở cả khu vực và thế giới.

Diện tích khu mộ cổ Hàng Gòn rộng khoảng 2 hécta được quy hoạch thành 7 khu vực chính: khu trưng bày truyền thống, khu quản lý di tích, khu môi trường sinh thái, khu công viên văn hóa, khu công trình công cộng, khu giao thông, sân bãi.

Nhà bao che di tích là công trình lớn nhất trong khu di tích mộ cổ. Cảnh quan xung quanh khu nhà này được bao bọc bằng những rặng cây cao, to để tạo ra cảm giác thâm nghiêm khi bước vào khu trung tâm mộ cổ. Con đường từ ngoài dẫn vào hầm mộ hơi dốc từ trên xuống dần, ánh sáng nhạt, mờ ảo tạo cảm giác kỳ bí hối thúc người tham quan khám phá hầm mộ cổ.

* Thu hút khách tham quan

Mộ cự thạch Hàng Gòn là một trong những điểm đến không thể thiếu được với du khách khi đến tham quan khu vực Long Khánh - Xuân Lộc.  Hiện nay, di tích Mộ cổ Hàng Gòn thu hút nhiều đoàn khách trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu về lịch sử, văn hóa và đây cũng là điểm nhấn trong tuyến du lịch cửa ngõ phía Đông của Đồng Nai.

Khoảng 90 năm trôi qua, kể từ ngày phát hiện, rất nhiều tài liệu trên thế giới đã giới thiệu, nghiên cứu về Mộ cự thạch Hàng Gòn, nhưng vẫn không đáp ứng đủ những mong muốn tìm hiểu về ngôi mộ cổ này. Do đó, Mộ cự thạch Hàng Gòn đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn cần khám phá đối với các đoàn nghiên cứu trong và ngoài nước. Đó là bằng chứng sinh động cho thấy giá trị lớn lao của công trình kiến trúc trên.

Mộ cự thạch Hàng Gòn minh chứng cho sức mạnh đoàn kết, tài năng sáng tạo của người Việt cổ Đồng Nai. Cách đây hàng ngàn năm khi chưa có phương tiện máy móc hỗ trợ con người vận chuyển bằng sức người nhưng lại có thể nâng hạ những tấm đá hoa cương nặng hàng chục tấn bằng hệ thống ròng rọc trụ đá, cây và dây rừng để xây dựng nên hầm mộ. Đây là một thành tựu độc đáo về nghệ thuật, kỹ thuật chế tác đá của người xưa vùng Nam Á, góp phần làm sáng tỏ nhiều điều về nền văn minh lưu vực sông Đồng Nai.

Nguyệt Hạ

.
.
;
.
.