Tuần lễ Nước quốc tế Việt Nam 2018:

Hợp tác phát triển bền vững tài nguyên nước

Cập nhật lúc 23:24, Chủ Nhật, 04/03/2018 (GMT+7)

Hợp tác phát triển bền vững tài nguyên nước là chủ đề chính của Tuần lễ Nước quốc tế Việt Nam (VACI 2018), diễn ra từ ngày 4 đến 8-3 tại Hà Nội với sự tham gia của đại diện hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. VACI 2018 khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp tích cực hoạt động sản xuất, nghiên cứu ra các sản phẩm, giải pháp công nghệ, dịch vụ... nhằm hướng tới mục đích thiết thực là tăng cường nhận thức của cộng đồng về tài nguyên nước và môi trường.

Tổng giám đốc NAWAPI – ông Tống Ngọc Thanh tại Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập
Tổng giám đốc NAWAPI – ông Tống Ngọc Thanh tại Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập

Theo thống kê của Bộ Tài nguyên - môi trường, từ năm 1980 đến nay tổng lượng nước khai thác trên thế giới tăng trên 1% mỗi năm, tạo thêm sức ép ngày càng lớn về nước ở rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau. Hiện tại, trên thế giới, khoảng 780 triệu người chưa có điều kiện tiếp cận với nguồn nước sạch an toàn, trong khi đó, cả nguồn nước mặt và nước dưới đất đang ngày càng bị suy thoái, ô nhiễm. Theo ước tính của Liên hợp quốc, thế giới sẽ cần thêm 30% nước sạch so với nhu cầu hiện tại vào năm 2030 và có thể lên đến 44% vào năm 2050. Đó là những con số rất đáng báo động.

Tại VACI 2018 sẽ diễn ra các hoạt động nổi bật là Phiên toàn thể “Nước và mục tiêu phát triển bền vững”; 23 hội thảo với gần 500 bài báo khoa học, tham luận tập trung vào nhiều nội dung quan trọng liên quan đến quan trắc và dự báo tài nguyên nước như thích ứng với biến đổi khí hậu ở các lưu vực sông châu Á; thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở khu vực Đông Nam Á; hướng tới quản lý thích ứng vùng đồng bằng tại Việt Nam; các giải pháp tích hợp cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long; quản lý nguồn nước xuyên biên giới... Triển lãm ảnh và sản phẩm công nghệ trong lĩnh vực tài nguyên nước, 70 poster, hơn 20 gian hàng triển lãm. Bên cạnh đó, sự kiện VACI 2018 cũng bao gồm 2 khóa học: “Ứng dụng công nghệ vệ tinh trong quản lý tài nguyên nước”, “Quan trắc và dự báo tài nguyên nước”.

Diệu Thúy

.
.
;
.
.