[Loạt Megastory] Dưới lá cờ Tổ quốc: Chiến khu Đ: 'Tọa độ đỏ' dưới lá cờ giải phóng (Kỳ cuối)
.

[Loạt Megastory] Dưới lá cờ Tổ quốc: Chiến khu Đ: 'Tọa độ đỏ' dưới lá cờ giải phóng (Kỳ cuối)

19:08, 21/08/2026
 

Vượt qua muôn vàn gian khổ, bom đạn ác liệt trong kháng chiến chống Mỹ, Chiến khu Đ đã trở thành một trung tâm đầu não, nơi ra đời những quyết sách xoay chuyển cục diện chiến trường miền Nam. Kế thừa hào khí kiên cường từ rừng sâu năm xưa, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Đồng Nai hôm nay đang nhân lên niềm tự hào ấy thành sức mạnh và khát vọng bứt phá, vươn mình phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.

 
 

Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, miền Đông Nam Bộ luôn là chiến trường trọng điểm, nơi đụng độ quyết liệt giữa lực lượng cách mạng và bộ máy chiến tranh khổng lồ của kẻ thù. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nhiều cam go thử thách, Chiến khu Đ trở thành căn cứ quan trọng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, nơi đóng quân của Bộ Tư lệnh Miền và các cơ quan lãnh đạo cách mạng ở Nam Bộ. Nơi đây là điểm tập trung lực lượng vũ trang, cung cấp hậu cần, đào tạo cán bộ, huấn luyện bộ đội và phát triển các binh chủng mới, đồng thời là nơi sản xuất vũ khí, đạn dược và tổ chức các chiến dịch quân sự lớn trên khắp chiến trường miền Đông Nam Bộ. Chiến khu cũng là hậu cứ quan trọng hỗ trợ cho các trận đánh lớn ở Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long và đô thị Sài Gòn. Dưới bom đạn ác liệt, quân và dân Chiến khu Đ vẫn kiên cường bám đất, bám rừng, không ngừng mở rộng.

Trong Chiến thắng Bình Giã năm 1964, Quân giải phóng từ Chiến khu Đ đã lập nên chiến công lớn, đánh bại chiến thuật “Trực thăng vận” và “Thiết xa vận” của địch. Tiếp đó, trong trận Đồng Xoài năm 1965, quân và dân Chiến khu Đ tiếp tục là điểm tựa vững chắc cho các đơn vị chủ lực, góp phần đánh tan nhiều cuộc hành quân lớn của địch, phá hủy các kế hoạch bình định và mở rộng kiểm soát.

 

Trong suốt hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ, quân và dân Chiến khu Đ đã phải chịu đựng những mất mát, đau thương không thể kể xiết. Địch liên tục mở các cuộc hành quân càn quét với quy mô lớn, sử dụng bom napalm (bom cháy), máy bay B52 và chất độc hóa học để phá hủy rừng, triệt phá căn cứ cách mạng. Nhưng dù đối mặt với khó khăn, gian khổ, tinh thần bất khuất của quân và dân nơi đây chưa bao giờ bị khuất phục. Những con người sống trong lòng núi rừng Đông Nam Bộ đã chiến đấu không chỉ bằng súng đạn mà còn bằng niềm tin sắt đá vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

 
 

Chiến khu Đ là vùng giáp ranh nối từ rừng núi bạt ngàn nam Tây Nguyên và cực nam Trung Bộ xuống giáp với các đô thị lớn như Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Sài Gòn. Với địa thế hiểm trở, rừng núi bạt ngàn và hệ thống sông ngòi phức tạp, nơi đây sớm trở thành căn cứ địa cách mạng quan trọng. Chiến khu không chỉ là nơi tập trung lực lượng vũ trang mà còn là nơi tổ chức các cuộc tấn công vào quân Pháp, đồng thời tạo ra một vùng an toàn cho nhân dân và lực lượng vũ trang tiến hành các hoạt động chính trị. Quân và dân Chiến khu Đ đã kiên trì xây dựng và củng cố hệ thống hậu cần vững mạnh, đảm bảo đủ lương thực, vũ khí, thuốc men cho kháng chiến lâu dài. Từ các kho tàng, bệnh viện dã chiến và các tuyến vận chuyển bí mật qua rừng núi, quân và dân đã cung cấp hậu cần cho các mặt trận ác liệt tại Nam Bộ. Nhờ đó giúp các lực lượng cách mạng duy trì sức chiến đấu và hoạt động lâu dài trong suốt 2 cuộc kháng chiến.

 

Tháng 1-1961, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ra nghị quyết về nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam, trong đó nhấn mạnh: Ra sức xây dựng mau chóng lực lượng ta về cả hai mặt chính trị, quân sự và kiện toàn cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo, thành lập Trung ương Cục miền Nam thay cho Xứ ủy Nam Bộ.

Lễ thành lập Trung ương Cục được tổ chức long trọng tại Chiến khu Đ ở rừng Mã Đà. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được cử làm Bí thư Trung ương Cục. Các ủy viên Võ Chí Công, Trần Nam Trung, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Đáng, Lê Quang Xô, Trương Công Thuận, Phạm Thái Bường. Các cơ quan tham mưu của Trung ương Cục cũng được thành lập để đẩy nhanh tốc độ phát triển các lực lượng cách mạng. Căn cứ Trung ương Cục đóng tại suối Nhung, rừng Mã Đà.

Một trong những quyết định đặc biệt quan trọng ra đời tại Chiến khu Đ ngay sau đó: Ngày 15-2-1961, triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị và Chỉ thị của Tổng Quân ủy, Trung ương Cục miền Nam ra quyết định thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Quân giải phóng miền Nam Việt Nam là bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu trên chiến trường miền Nam, được thành lập với mục tiêu cao nhất là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

 

Sự ra đời của Quân giải phóng miền Nam đã đáp ứng kịp thời đòi hỏi bức xúc của tình hình miền Nam lúc bấy giờ, là một quyết sách vô cùng quan trọng và cực kỳ chuẩn xác. Quyết sách ấy để lại cho hôm nay và mai sau nhiều bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu, trong đó đặc biệt là bài học về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trước tình hình thực tế của đất nước. Và suối Nhung - dòng suối bao năm róc rách dưới đại ngàn thăm thẳm, đã trở thành địa danh lịch sử, nơi chứng kiến những chủ trương, đường lối của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy, Trung ương Cục đề ra cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam tỏa đi khắp nơi.

Dù đến năm 1962, căn cứ phải chuyển về chiến khu Bắc Tây Ninh do bệnh sốt rét hoành hành, Chiến khu Đ tại căn cứ Mã Đà đã chứng kiến sự ra đời và hoạt động của nhiều cơ quan Trung ương Cục với hàng ngàn cán bộ từng sống và chiến đấu tại đây. Sau khi cơ quan Trung ương Cục miền Nam chuyển về Tây Ninh, căn cứ Mã Đà là nơi đứng chân của Quân y viện K72 (Bệnh xá K72) và quân chủ lực Miền, trong đó có Sư đoàn 9 là sư đoàn chủ lực. Chỉ tính riêng Sư đoàn 9, trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ có hàng ngàn chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong khu vực rừng Mã Đà. Vì vậy, Nghĩa trang liệt sĩ Mã Đà hôm nay không chỉ thờ cúng, tri ân 70 liệt sĩ mà còn là nghĩa trang chung của hàng ngàn chiến sĩ đã hy sinh khi đóng quân tại đây.

 
 

Hào khí của “Tọa độ đỏ” Chiến khu Đ năm xưa đã và đang tiếp tục được tô thắm, hôm nay chuyển hóa thành luồng sinh khí mới, thôi thúc Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Đồng Nai bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên bứt phá phát triển.

Sau sáp nhập Đồng Nai - Bình Phước, không gian lịch sử Chiến khu Đ xưa đã gần như trọn vẹn trong bản đồ hành chính thành phố Đồng Nai hôm nay. Chiến khu Đ ngày nào, hôm nay phồn thịnh nối liền một dải từ trung tâm thành phố đến các trung tâm công nghiệp và đến tận vùng biên giới giáp ranh nước bạn Campuchia.

 

Tại Lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội về thành lập thành phố Đồng Nai ngày 18-5-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Đồng Nai là vùng đất có chiều sâu lịch sử văn hóa, cách mạng rất đặc biệt từ buổi đầu mở cõi phương Nam, với nhiều địa danh nổi tiếng in dấu các lớp trầm tích lịch sử nhiều thời kỳ, phản ánh tinh thần chinh phục thiên nhiên, chiến đấu, chiến thắng, lao động sáng tạo và phát triển của con người miền Đông Nam Bộ.

 

Những quyết sách đặc biệt quan trọng trên chiến trường năm xưa tại rừng sâu Chiến khu Đ được tiếp nối bằng những quyết sách chiến lược, đột phá phát triển của Đồng Nai hôm nay. Nhằm đưa Đồng Nai phát triển vững mạnh và hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh (nay là thành phố) Đồng Nai lần thứ I (nhiệm kỳ 2025-2030) đã hoạch định 3 khâu đột phá chiến lược:

Thứ nhất là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ phẩm chất, năng lực, tính hành động cao và khát vọng cống hiến, có uy tín ngang tầm nhiệm vụ; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trên các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, logistics, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số.

Thứ hai là huy động, phân bổ, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, tập trung phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đa dạng, đồng bộ, hiện đại, kết nối nội tỉnh, vùng và liên vùng; hệ thống hạ tầng kinh tế - kỹ thuật (gồm: hạ tầng logistics, hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu, hạ tầng khu công nghiệp xanh - sinh thái, thực hiện mục tiêu giảm phát thải các-bon...). Thúc đẩy phát triển hạ tầng đô thị, hạ tầng công nghệ, hạ tầng số, hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục...) gắn với định hướng bố trí không gian ngầm, giao thông công cộng thông minh.

Thứ ba là phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đẩy mạnh cải cách hành chính; xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ nhân dân và doanh nghiệp gắn với phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số.

 

Những quyết sách đúng đắn ấy đã nhanh chóng đi vào thực tiễn. Qua gần 1 năm thực hiện nghị quyết đại hội, bức tranh kinh tế - xã hội của thành phố đã phát triển bám sát các mục tiêu đề ra. 6 tháng đầu năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của thành phố tiếp tục duy trì nhóm dẫn đầu cả nước (xếp thứ 4/34 tỉnh, thành phố), với quy mô ước đạt trên 359,7 ngàn tỷ đồng, tăng hơn 47 ngàn tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2025. GRDP trong 6 tháng qua ước tăng 9,81% so với cùng kỳ năm trước, xếp thứ 11/34 tỉnh, thành phố và xếp thứ 2 trong vùng Đông Nam Bộ.

 

Lịch sử vẻ vang đã và sẽ tiếp tục là điểm tựa vững chắc cho thành phố Đồng Nai hôm nay hiện thực hóa khát vọng bứt phá trở thành một thành phố hiện đại, phát triển bậc nhất cả nước. Trong khát vọng vươn lên ấy là đợt thi đua đặc biệt 500 ngày đêm “Đoàn kết - Kỷ cương - Hiệu quả - Bứt phá, xây dựng Đồng Nai phát triển văn minh, hiện đại” đang được hơn 5 triệu người dân thành phố Đồng Nai ra sức thực hiện.

 

(1) Chiến khu Đ - 55 năm chiến đấu và xây dựng, NXB Đồng Nai, Bảo tàng Đồng Nai, Hội Nhà báo Đồng Nai, Báo Đồng Nai, xuất bản năm 1996.
(2) Trích trong “Chiến khu Đ - một thời lừng lẫy”, Báo Đồng Nai, số 1205 ra ngày 5-9-2006.

 
Từ khóa:

kháng chiến

Bứt phá

kỷ nguyên mới

chính quyền

Chiến khu Đ

thành phố Đồng Nai

Xem thêm bình luận