Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Khi tinh thần đại đoàn kết được phát huy mạnh mẽ, mọi tầng lớp nhân dân, mọi dân tộc, tôn giáo và thành phần xã hội cùng chung ý chí, mục tiêu và hành động vì lợi ích chung, sức mạnh ấy sẽ trở thành nguồn lực vô cùng to lớn đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Và “Đoàn kết, đoàn kết, Đại đoàn kết - Thành công, thành công, Đại thành công” đã trở thành chân lý, thành lẽ sống của chúng ta” - như lời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong bài viết “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để phát triển đất nước”.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, trong những giai đoạn cam go nhất của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, chính sự đồng lòng của toàn dân đã tạo nên những chiến thắng vẻ vang, viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc. Bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của hội nhập toàn cầu và bùng nổ công nghệ, dòng máu đoàn kết ấy lại càng cần được nuôi dưỡng, bồi đắp trong mỗi người Việt Nam để triệu cánh tay nắm chặt thành một khối thống nhất, đại đoàn kết sẽ trở thành bệ phóng đưa con tàu Việt Nam rẽ sóng ra biển lớn.
Từ một thuộc địa không có tên trên bản đồ thế giới, một chế độ phong kiến lạc hậu ở phương Đông, vào mùa thu lịch sử năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đoàn kết triệu người như một, nhất tề tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, chính thức tuyên bố với quốc dân đồng bào và cộng đồng quốc tế sự ra đời của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cũng chính từ đây, đất nước ta bước sang trang sử mới với niềm tin thắng lợi mới, dũng khí mới, đánh dấu sự mở đầu kỷ nguyên độc lập, tự do và làm chủ vận mệnh đất nước - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Thắng lợi Cách mạng tháng Tám đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm, ách thống trị của phát xít Nhật gần 5 năm và chế độ phong kiến tồn tại hàng thế kỷ ở nước ta. Thắng lợi ấy không chỉ có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử dân tộc Việt Nam mà còn cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới vì nền độc lập, tự do và tiến bộ xã hội, vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân.
Từ thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến vị thế, tầm vóc của Việt Nam trên trường quốc tế ngày nay là một hành trình lịch sử vẻ vang, được hun đúc bởi tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó không chỉ là thắng lợi của khát vọng độc lập, tự do mà còn là minh chứng sinh động cho sức mạnh của lòng dân khi được tập hợp dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.
Trên nền tảng lịch sử ấy, Việt Nam đã kiên cường vượt qua các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, khắc phục hậu quả và từng bước vươn lên phát triển. Đặc biệt, sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã từng bước chuyển mình mạnh mẽ, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực. Xuất phát điểm là một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam đã vươn mình trở thành nền kinh tế có quy mô hàng đầu khu vực Đông Nam Á, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, quốc phòng - an ninh được giữ vững, hệ thống chính trị ngày càng được củng cố, vững bền. Việt Nam giờ đây đã ghi dấu ấn bởi nền kinh tế tăng trưởng năng động, ấn tượng tại khu vực, đặc biệt là năm 2025 tăng trưởng GDP đạt 8,02%, là nước có thu nhập trung bình cao - xếp thứ 32 trên toàn thế giới.
Trong xu thế hội nhập toàn cầu, Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò, uy tín và trách nhiệm của mình trên trường quốc tế, tạo nên thế và lực mới cho đất nước. Minh chứng sinh động đó chính là quan hệ đối ngoại không ngừng được rộng mở, từ một nước bị bao vây, cô lập, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia và lãnh thổ, có quan hệ đối tác toàn diện hoặc cao hơn với 43 quốc gia, bao gồm cả 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đồng thời là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Sự tham gia của Việt Nam vào các sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc đã để lại ấn tượng tốt đẹp đối với bạn bè quốc tế. Và mới đây, Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19-5-2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng cũng đã đề ra mục tiêu phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước. Xác định đúng đường hướng, tư tưởng thì công tác đối ngoại lại càng góp phần quan trọng vào nhiệm vụ khẳng định uy tín, giá trị Việt Nam trên bản đồ thế giới.
Từ thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến vị thế ngày càng cao của Việt Nam hôm nay là minh chứng rõ nét cho chân lý: khi khơi dậy được sức mạnh của nhân dân, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc và kiên định con đường đã lựa chọn, dân tộc Việt Nam sẽ từng bước vượt qua mọi thử thách để vươn tới những thành tựu lớn lao, góp phần nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế.
Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử dân tộc vẫn luôn minh chứng: “Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”, và lời nhắc nhở đó của Người qua bao thế hệ vẫn vẹn nguyên giá trị. Đại đoàn kết dân tộc là một trong những nội dung cốt lõi trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Người luôn khẳng định đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành công của cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, sức mạnh của dân tộc không chỉ đến từ tiềm lực kinh tế, quân sự hay nguồn tài nguyên, mà trước hết bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân khi được tập hợp thành một khối thống nhất. Chính vì vậy, Người nhiều lần nhấn mạnh: “Đoàn kết, đoàn kết, Đại đoàn kết - Thành công, thành công, Đại thành công”.
“Lấy dân làm gốc” là quan điểm cốt lõi, tư tưởng xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Nhân dân là trung tâm, chủ thể của mọi quyết sách và mọi chủ trương, đường lối đều phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Nhân dân là cội nguồn sức mạnh, hội tụ được lòng dân là đã tập hợp được khối thống nhất lớn mạnh như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Nước lấy dân làm gốc; Gốc có vững, cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Người cho rằng nhân dân là chủ thể của lịch sử, là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng. Và đại đoàn kết phải được thực hiện rộng rãi, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, thành phần xã hội, miễn là cùng hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Người chủ trương tập hợp mọi lực lượng yêu nước, phát huy những điểm tương đồng, hạn chế những khác biệt để tạo nên sức mạnh chung của toàn dân tộc.
Không chỉ lấy dân làm gốc cho mọi chủ trương, quyết sách mà theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phải biết dựa vào dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Bởi nền tảng của mọi tổ chức, quốc gia, dân tộc có vững chắc hay không suy cho cùng là do có được lòng dân hay không, thế nên lòng dân chính là gốc rễ của mọi vấn đề. Chính vì thế, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng thì mới sâu rễ, bền gốc. Và tư tưởng ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được kế truyền qua bao đời cho đến tận ngày nay. Ngay như trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng, quan điểm “dân là gốc” tiếp tục được khẳng định là nguyên tắc xuyên suốt, có ý nghĩa nền tảng và giá trị thực tiễn sâu sắc.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết. Trong suốt quá trình cùng với Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn nhận thức đúng đắn về vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, đồng thời khẳng định sự thành công của cách mạng phụ thuộc rất lớn vào khả năng tập hợp quần chúng nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhờ phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc mà đất nước ta đã làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, chiến thắng trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và đạt nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới.
Theo lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Đồng Nai, quan điểm nhất quán của Đảng bộ thành phố Đồng Nai là luôn xác định nhân dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của sự phát triển. Mọi chủ trương, chính sách đều hướng đến mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; đồng thời phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc là di sản quý báu, xuyên suốt đường lối cách mạng của Đảng và đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự, là nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin xã hội, phát huy sức mạnh toàn dân, tạo động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng. Và đại đoàn kết toàn dân tộc chính là sức mạnh nội sinh, nguồn lực vô cùng to lớn giúp Việt Nam từng bước vững chắc tiến vào kỷ nguyên mới của dân tộc - kỷ nguyên phồn vinh, thịnh vượng và hạnh phúc.