Cuộc thi viết "Biên Hòa - Đồng Nai trong tôi"

Đình làng - di sản của tiền nhân

Cập nhật lúc 21:51, Thứ Hai, 07/01/2019 (GMT+7)

Tôi có may mắn được đi nhiều nơi trên địa bàn của Đồng Nai, từ vùng đất đỏ bazan đồi núi phía Bắc đến sông rạch phía Nam, theo dòng chảy từ thượng nguồn xuôi về các cù lao miệt hạ và cửa sông Đồng Nai. Một vùng đất đã từng là Trấn Biên xưa, Biên Hòa nay với nhiều dân cư sinh sống qua các thời kỳ, tạo nên bức tranh đa dạng sắc thái của văn hóa Đông Nam bộ.

Đình Phú Mỹ (xã Phú Hội, huyện Nhơn Trạch).
Đình Phú Mỹ (xã Phú Hội, huyện Nhơn Trạch).

Nhiều dấu ấn của các cư dân đã để lại trên chặng đường sinh tồn của cộng đồng; đặc biệt, cộng đồng người Việt khi tìm đến khai khẩn, mưu sinh cách đây hơn ba thế kỷ. Theo tôi, dấu ấn sâu đậm và gắn liền với cộng đồng rõ nét nhất của người Việt là thiết chế tín ngưỡng dân gian đình làng. Đình gắn với làng như một sự hòa quyện, bổ sung trong tập quán cư trú, không thể tách rời của đời sống tinh thần và vật chất của người dân. Trong tổng thể văn hóa của làng, của đình Nam bộ, đình làng Đồng Nai vừa có nét chung của cộng đồng cư dân, vừa có nét riêng của một vùng đất được xem là địa đầu Nam bộ.

Đã qua rồi cái thời “đất rộng, người thưa”, “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um”, Biên Hòa - Đồng Nai nay “đất hẹp, người đông”. Thế nhưng, trải qua các thời kỳ vùng đất này luôn là vùng đất “mở”, đón nhận nhiều thế hệ di dân từ các nơi khác đến sinh sống. Dầu cho nhiều làng quê ngày nào đã lên phố thị, tính chất thuần nông ngày trước không còn, nhưng dấu ấn của thời khai khẩn lập làng vẫn còn đó, thể hiện rõ nét nhất qua đình làng. Quy mô của đình làng lớn lên với sự phát triển của số lượng hộ dân, của kinh tế làng. Thậm chí, ban đầu, làng thôn lớn nhưng ít người thì chung đình, nhưng sau đó người đông thì chia tách, thêm làng và cũng có nơi thêm đình. Trước, kinh tế còn khó khăn, eo hẹp thì nơi thờ thần làng cũng đơn sơ, miễn có lòng tin, sự tín niệm. Khi có điều kiện, đình làng được tu bổ, sửa sang khang trang. Dân làng thịnh vượng, xứ sở thái an thì đình làng được mở rộng với sự góp công, góp của của nhiều người. Vì vậy, có thể nói, đình làng là một thiết chế tín ngưỡng gắn liền với sự phát triển của dân cư của một đơn vị làng thôn Đồng Nai.

Thần của làng mang tính chất thiêng, thể hiện sự tín niệm vào thần linh với sự che chở bảo bọc trên vùng đất mới từ cái thuở “tiền hiền khai khẩn” và nhiều thế hệ với “hậu hiền khai cơ” là một yếu tố cơ sở cả vật chất mang tính chất nền tảng và tinh thần tạo nên động lực cho sự đảm bảo về đời sống dân làng “an cư lạc nghiệp”. Thực ra, nhiều người dân chỉ tín niệm thần của làng một cách đơn giản: vị thần bảo vệ của làng xã mình đang sống. Thế là an tâm bởi làng quê từ cá nhân đến cộng đồng có một thần linh che chở. Còn với những người có chữ nghĩa, thần được hiểu cặn kẽ hơn bởi thần và thiết chế tín ngưỡng miếu, đình gắn liền với cộng đồng, tổ chức của làng xã trước đây. Thần của làng cũng có những thứ bậc liên quan đến vua của quốc gia qua sắc phong, nghi lễ cúng tế trong năm theo điển lệ. Thậm chí, có nơi khi thần của làng được ban sắc phong của vua là sự vinh dự, niềm tự hào và khẳng định vị thế của làng.

Những ngày lễ tiết, đặc biệt là lễ kỳ yên/ cầu an trong năm tại đình làng thu hút người dân địa phương đến thể hiện niềm tin với thần linh cũng chính là để gắn kết cộng đồng thêm chặt chẽ. Họ cùng chung mục đích, cúng tín ngưỡng, cùng ước vọng những điều tốt đẹp cho chính cá nhân, gia đình cũng như của cả cộng đồng nơi cư trú, sinh sống. Người dân có thể tổ chức riêng rẽ những lễ tiết của gia đình nhưng lễ hội kỳ yên thì “chung sức, chung của, chung công” lo từ trong quá trình của lễ hội tại đình làng. Từ ban hội đình, miếu đến tham gia học trò lễ, phụ việc, dân làng tự nguyện tham gia tiếp đón, lo đãi hậu cần… Ý thức trách nhiệm được thể hiện không chỉ của cá nhân đối với thần linh mà chính là đối với cộng đồng từ việc của đình làng - việc công và trong tín ngưỡng của cá nhân, gia đình, dòng họ.

Đình Long Chiến (xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu).
Đình Long Chiến (xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu).

Đình làng duy trì truyền thống đạo lý biết ơn tổ tiên của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”. Đối tượng thờ cúng và những lễ nghi chính đều dâng cúng thần linh nhưng không bao giờ quên những nghi thức biết ơn đối với những người có công với làng xóm. Nhiều đình làng thờ Tiên sư, Tổ nghề, Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền khai cơ và ghi khắc công đức đối với những người có công lập đình, dâng ruộng đất, của cải từ thuở lập làng, dựng đình hay trùng tu, tôn tạo. Một số đình làng Đồng Nai thờ những bậc danh nhân, anh hùng của dân tộc, có công với làng xã như: Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Tri Phương, Trần Thượng Xuyên, Đoàn Văn Cự… Việc ghi nhận, biết ơn công lao và thờ những người có công với nước, với làng xã tại các đình làng cũng là một “thiết chế giáo dục” cơ bản, ý nghĩa thiết thực đối với cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Trong các đình làng ở Đồng Nai luôn ẩn chứa những nguồn tư liệu quý, vốn văn hóa dân gian được bồi đắp của cư dân trên vùng đất này. Gắn liền với đình làng là  truyện tích, chuyện kể liên quan đến đối tượng thờ phụng, về các bậc tiền hiền, hậu hiền, những người có công với quê hương, những câu chuyện kể của thời kỳ khai khẩn ban đầu, những sự kiện lịch sử cả hào hùng và bi tráng. Những nội dung của hoành phi, liễn đối chữ Hán - Nôm là nguồn tư liệu quý về lịch sử - văn hóa, có ý nghĩa giáo dục của các thế hệ tiền nhân mong muốn như một mạch nguồn được truyền lưu.

Dẫu có nhiều biến chuyển của xã hội, chịu nhiều tác động trên nhiều khía cạnh, những đình làng ở Đồng Nai vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống cư dân địa phương với tư cách trước hết là loại hình cơ sở tín ngưỡng dân gian. Trên vùng đất Đồng Nai, nhiều đình làng gắn liền với đời sống của cư dân từ thời khai phá cho đến nay. Kiến trúc hiện tồn của nhiều ngôi đình qua nhiều giai đoạn lịch sử là những minh chứng hùng hồn cho sự sáng tạo không ngừng của người dân. Những dạng thức kiến thức truyền thống được bảo lưu và kết hợp hài hòa kiến trúc mới đã làm phong phú loại hình kiến trúc nghệ thuật. Những tác phẩm điêu khắc gỗ, sơn mài, đá, gốm, sứ... được sử dụng trang trí trong các cơ sở tín ngưỡng này có giá trị nghệ thuật cao, minh chứng cho sự sáng tạo, tài hoa của những thế hệ nghệ nhân tại địa phương. Đó là tập thành những giá trị di sản văn hóa phi vật thể phong phú. Nhiều đình làng Đồng Nai với những giá trị về lịch sử, kiến trúc, gắn liền với những danh nhân, anh hùng, người có công với quê hương, đất nước… đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia, cấp tỉnh. Nhiều thế hệ tiền nhân đã dày công, khó nhọc khai mở vùng đất này và đã để lại nguồn di sản văn hóa quý báu cho hôm nay.

Thiết chế đình làng ở Đồng Nai là một dạng thức văn hóa đặc trưng cần được bảo tồn và phát huy hợp lý, hiệu quả trong môi trường phát triển mới để đem lại lợi ích thiết thực cho người dân, cho xã hội. Dầu nằm trong danh mục di tích lịch sử - văn hóa hay chưa, những ngôi đình ở Đồng Nai vẫn hiện tồn những giá trị qua năm tháng, là nguồn di sản quý giá của nhiều thế hệ góp phần làm đa dạng sắc thái văn hóa cho vùng đất này nói riêng trong dòng chảy văn hóa Nam bộ.

Duyên Phan

.
.
;
.
.