Dấu ấn lịch sử, văn hóa Biên Hòa - Đồng Nai

Cập nhật lúc 03:15, Thứ Năm, 27/12/2018 (GMT+7)

TIN LIÊN QUAN
Kỷ niệm vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai 320 năm là dịp để Đảng bộ, nhân dân Biên Hòa - Đồng Nai tưởng nhớ những bậc tiền hiền mở cõi, tiếp tục phát huy truyền thống nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng… để tiếp nối người đi trước dựng xây tỉnh Đồng Nai không ngừng phát triển hài hòa theo hướng công nghiệp hiện đại và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Một cảnh trong chương trình nghệ thuật tái hiện 300 năm hình thành và phát triển của Văn miếu Trấn Biên. ảnh: VĂN TRUYÊN
Một cảnh trong chương trình nghệ thuật tái hiện 300 năm hình thành và phát triển của Văn miếu Trấn Biên. ảnh: VĂN TRUYÊN

* Nguyễn Hữu Cảnh và quá trình mở đất

Nguyễn Hữu Cảnh hay Nguyễn Hữu Kính (1650-1700) là con thứ của Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật. Ông là một tướng giỏi đời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725). Thời trẻ, ông đã theo cha phục vụ trong quân ngũ đến chức Cai Cơ. Năm 1692, ông được cử làm Thống binh mang quân lập công to ở vùng biên cương được chúa Nguyễn thăng chức Chưởng cơ và cho làm Trấn thủ dinh Bình Khương. Với tài năng và kinh nghiệm chinh chiến, mùa xuân năm 1698 ông được chúa cử vào kinh lược sứ đất Đàng Trong, dinh Trấn Biên và dinh Phiên Trấn, đồng thời tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý vùng đất mới.

Vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai biết ơn trên 1 ngàn bà mẹ được tôn vinh với danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam anh hùng và hàng chục cá nhân, đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới…

Đây là sự kiện lịch sử quan trọng mang tính bước ngoặt với toàn bộ vùng đất phương Nam, trong đó có vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai. Và đó cũng là lý do năm 1698 được chọn làm năm ra đời của vùng đất Biên Hòa.

Trở lại quá khứ, theo sử sách xưa để lại ta thấy: vùng đất Biên Hòa và miền Đông Nam bộ thuộc Vương quốc Phù Nam; từ thế kỷ thứ 7 thuộc về Vương quốc Chân Lạp. Từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 16 đây là vùng tranh chấp giữa 2 vương quốc Champa và Chân Lạp, nhưng không một vương quốc nào thực sự làm chủ vùng đất này. Châu Đạt Quan trong Chân Lạp phong thổ ký mô tả: “Bắt đầu vào Chân Bồ (vùng biển Vũng Tàu ngày nay), gần hết cả vùng đều là bụi rậm của rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú sum suê. Khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu…”. Và: “Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các biển Cần giờ, Lôi Lạp, Cửa Đại, cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm”.

Có 2 sự kiện, 2 thực thể chính trị diễn ra trên vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai là cơ sở để việc Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xếp đặt địa giới và  hành chính vùng đất mới được thuận lợi. Đó là năm 1620, với cuộc “hôn nhân chính trị”, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả Hoàng nữ Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II, mở đầu cho giai đoạn người Việt vào vùng đất mới.

Tiếp đó vào năm 1679, nhóm người Hoa “phản Thanh phục Minh” gồm 3 ngàn binh lính và gia đình theo đô đốc Trần Thượng Xuyên được chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần chấp thuận cho giữ nguyên binh hàm chức tước rồi truyền cho vua Chân Lạp cho phép người Hoa vào định cư xứ Ðồng Nai. Nhóm người Hoa sinh tụ ở khu vực Bến Gỗ, Cù lao Phố...

Đất đai lúc Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược năm 1698 (kể toàn phủ Gia Định) mở rộng 1 ngàn dặm, dân số hơn 4 vạn hộ (ước 200 ngàn người). Ông chiêu mộ thêm lưu dân từ Bố Chánh (Quảng Bình) đưa vào Nam cho ở đông đúc, thành lập xã, thôn, phường, ấp, chia đặt địa giới, khai khẩn ruộng đất, định lệ thuế, tô và dung, đồng thời lập sổ đinh, sổ điền.

Chuyến kinh lược của Nguyễn Hữu Cảnh đã chính thức đưa vùng đất Gia Định - Đồng Nai thuộc chủ quyền và quản lý của chúa Nguyễn. Đồng thời với việc chiêu mộ người dân có tài lực từ ngũ Quảng với cơ chế phù hợp đã khai thác tiềm năng của cộng đồng người Hoa, ổn định xã hội để họ yên tâm cùng lưu dân Việt thúc đẩy nhanh quá trình khai hoang và thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở vùng đất mới.

* Những dấu ấn 320 năm

Với nguồn lực và mối quan hệ rộng, Trần Thượng Xuyên và cộng đồng người Hoa ở Trấn Biên đã góp công lớn xây dựng Cù lao Phố thành một thương cảng sầm uất trong thế kỷ 18. Sách Đại Nam nhất thống chí mô tả: “Trần Thượng Xuyên chiêu nạp được người buôn nước Tàu, xây dựng đường phố, lầu quán đôi tầng rực rỡ trên bờ sông, liền lạc năm dặm và phân hoạch ra 3 nhai lộ: nhai lớn giữa phố lót đá trắng, nhai ngang lót đá ong, nhai nhỏ lót đá xanh, đường rộng bằng phẳng, người buôn tụ tập đông đúc, tàu biển, ghe sông đến đậu chen lấn nhau, còn những nhà buôn to ở đây thì nhiều hơn hết, lập thành một đại đô hội…”.

Thất phủ cổ miếu ở Cù lao Phố (xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa) được cộng đồng người Hoa xây dựng và khánh thành năm 1684. Người dân Biên Hòa thường gọi Thất phủ cổ miếu là chùa Ông. Đây là di tích tín ngưỡng dân gian thờ Quan Công đầu tiên được người Hoa xây dựng ở Nam bộ với kiến trúc độc đáo, hài hòa với các chất liệu đá, gỗ, gốm… Đây là điểm sinh hoạt cộng đồng xưa của người Hoa ở Biên Hòa đã được Bộ Văn hóa - thông tin (nay là Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch) ra quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hóa của quốc gia năm 2001. Một chứng tích cho thấy sự dung hợp văn hóa của cộng đồng Hoa - Việt trên địa bàn, tôn vinh các giá trị truyền thống: nhân, nghĩa, tín, dũng...

Nghi thức khai sắc thần tại Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh (xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa).
Nghi thức khai sắc thần tại Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh (xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa).

Mùa xuân năm 1715, Văn miếu Trấn Biên được chúa Nguyễn Phúc Chu chỉ đạo xây dựng, là văn miếu đầu tiên ở vùng đất Nam bộ bấy giờ, thờ Vạn thế sư biểu Khổng Tử đồng thời là cơ sở phát triển Nho học ở Nam bộ. Sau năm 1861, do chiến tranh văn miếu bị tàn phá. Năm 1998, nhân kỷ niệm 300 năm hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai, Văn miếu Trấn Biên được phục dựng trên nền cũ. Ngày nay Văn miếu Trấn Biên đã được công nhận di tích cấp quốc gia và trở thành một thiết chế mới nhằm tôn vinh những giá trị truyền thống tôn sư trọng đạo, khuyến khích phát huy sự nghiệp văn hóa, giáo dục, khoa học ở địa phương.

Năm 1700, Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh qua đời được chúa Nguyễn sắc phong Thượng đẳng thần. Nhớ công người mở đất, nhân dân Biên Hòa đã đề xuất đưa linh vị ông vào thờ ở đình Bình Kính và ngày nay trở thành Đền thờ Thượng đẳng thần Nguyễn Hữu Cảnh. Đền thờ đã được công nhận di tích cấp quốc gia, thể hiện lòng tôn kính người có công lớn với vùng đất mới Nam bộ.

Đình Tân Lân thờ Thượng đẳng thần Trần Thượng Xuyên, người cùng với Nguyễn Hữu Cảnh góp công lớn trong khai phá vùng đất mới Biên Hòa; giữ yên bờ cõi, an dân ở Nam bộ và phát triển kinh tế trên vùng đất mới.

Dấu ấn lịch sử văn hóa trên vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai xưa vẫn còn những di tích tiêu biểu khác như: chùa Long Thiền ven sông Đồng Nai (nay thuộc xã Bửu Hòa, TP.Biên Hòa) do nhà sư Thành Nhạc cùng một số phật tử dựng lên (năm 1664); chùa Bửu Phong (phường Bửu Long TP.Biên Hòa) do nhà sư Thành Trí cùng một số phật tử dựng lên (năm 1679); chùa Đại Giác (Cù lao Phố nay thuộc xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa) do nhà sư Thành Đẳng cùng cư dân Việt từ ngũ Quảng vào xây dựng (năm 1665). Cả 3 nhà sư này đều là đệ tử nhà sư Nguyên Thiều Siêu Bạch, người xây dựng chùa Kim Cang (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu) trước đó khoảng năm 1616.

Đó là những địa danh, những chiến công hào hùng mà quân dân Biên Hòa - Đồng Nai đã tạo thành, ghi dấu ấn lịch sử qua những di tích, đền thờ tưởng niệm ở địa phương như: Đền thờ Đoàn Văn Cự, Đền thờ Nguyễn Đức Ứng, Căn cứ địa Chiến khu Đ, Căn cứ Khu ủy miền Đông, Căn cứ Trung ương Cục miền Nam ở Mã Đà, Căn cứ Tỉnh ủy Biên Hòa (Trảng Bom và Long Thành), Căn cứ Rừng Sác (Nhơn Trạch); chiến thắng La Ngà, chiến thắng Sân bay Biên Hòa, Tổng kho Long Bình, chiến thắng Xuân Lộc (năm 1975)…

ThS.Trần Quang Toại,

Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử  Đồng Nai

.
.
;
.
.