Bụt nhà không thiêng nhìn từ Nỗi buồn chiến tranh ?

Cập nhật lúc 22:40, Thứ Sáu, 16/09/2016 (GMT+7)

Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh vừa được đề cử nhận giải Sim Hun của Hàn Quốc. Tính đến thời điểm này, đây là cuốn tiểu thuyết Việt Nam được chuyển ngữ và xuất bản nhiều nhất trên thị trường sách quốc tế.

Nỗi buồn chiến tranh có đoạt thêm giải thưởng nước ngoài cũng không có gì đáng sửng sốt. Thế nhưng, ngay trên chính sân nhà, Nỗi buồn chiến tranh vẫn lênh đênh theo kiểu đặc trưng của một nền văn học chưa thoát khỏi tư tưởng bao cấp. Nỗi buồn chiến tranh xuất hiện đúng thời điểm văn học Việt Nam hào hứng với quan niệm “cởi trói” và chống lại “sự im lặng đáng sợ”. Tuy nhiên, ngay chính những người trao giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1991 cho Nỗi buồn chiến tranh sau đó cũng lưỡng lự đính chính. Rõ ràng, giá trị tác phẩm chưa được mặc định trên chính trang giấy, mà còn bị chi phối bởi những hệ lụy xung quanh.

Việt Nam trong thế kỷ 20 là một biểu tượng chiến tranh trong mắt bạn bè năm châu. Tác phẩm của Bảo Ninh chỉ mang lại gợi ý khám phá về một dân tộc, nhưng quan trọng hơn là chạm đến số phận con người. Nỗi buồn chiến tranh ấn tượng ngay chính cái tên. Nếu tiểu thuyết đổi thành Thân phận tình yêu như một dạo, thì chắc chắn giá trị sẽ tụt giảm ít nhiều. Nỗi buồn chiến tranh được nhìn qua lăng kính nhạy cảm của nhân vật Kiên:
“Có lẽ rất ít người cầm bút đương thời nào chứng kiến nhiều cái chết và thấy phải nhiều xác chết đến như Kiên. Vì thế sách anh đầy rẫy tử thi”.

Do đó, bạn đọc ở quốc gia nào cũng có thể đồng cảm “nỗi buồn chiến tranh trong lòng người lính có cái gì tựa như nỗi buồn của tình yêu, như nỗi nhớ nhung quê nhà, như biển sầu lúc chiều buông trên bến sông bát ngát”. Và cũng không quá khó khăn để nhận ra khát vọng của nhân vật Kiên cũng là khát vọng của Bảo Ninh: “Bằng sự trầm mình sâu xa trong hồi tưởng, trong nỗi đau buồn chiến tranh không bao giờ nguôi mà anh sẽ tồn tại đến trót đời với thiên chức là một cây bút của những người đã hy sinh, là nhà tiên tri những năm tháng đã qua đi, người báo trước thời quá khứ”.

Câu cửa miệng “bụt chùa nhà không thiêng” luôn được nhắc đến đầu tiên, khi Nỗi buồn chiến tranh bị hụt giải thưởng Nhà nước. Thực ra, cái tâm lý ấy không phải quá phổ biến. Những người từng đọc Nỗi buồn chiến tranh sẽ có cách đánh giá riêng. Và suốt một phần tư thế kỷ qua, Nỗi buồn chiến tranh đã tự đi trong nhu cầu thưởng thức của xã hội một cách âm thầm và bền bỉ. Không vì có thêm một giải thưởng mà Nỗi buồn chiến tranh được kê cao hơn, hoặc không vì giảm bớt một giải thưởng mà Nỗi buồn chiến tranh sụt giảm vị trí. Một tác phẩm đích thực phải chấp nhận sự đón nhận từ nhiều xu hướng khác nhau, vồ vập hoặc hờ hững, thân thiện hoặc đả kích. Và càng trải qua thăng trầm, thì những suy tư trong tác phẩm càng được bồi đắp, càng được hiển lộ!

Đối với bạn đọc, Nỗi buồn chiến tranh rì rầm ở sự âu lo “chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới thảm sầu vô hạn và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người”, và Nỗi buồn chiến tranh cũng nâng đỡ ở sự chịu đựng “ký ức tình yêu và ký ức chiến tranh kết thành sinh lực và thành thi hứng, giúp anh thoát khỏi cái tầm thường bi đát của số phận anh sau chiến tranh”.

Nếu đọc được Nỗi buồn chiến tranh trong trọn vẹn cấu trúc hồi ức của tác phẩm và tinh thần sáng tạo của tác giả, thì chẳng ai còn quan tâm đến giải thưởng lớn nhỏ và thị phi bủa vây cuốn sách. Nhiều năm qua Nỗi buồn chiến tranh đã bước ra khỏi biên giới như một đại diện ưu tú của văn học Việt Nam. Ngay cả thị trường sách Trung Quốc cũng chào đón Nỗi buồn chiến tranh một cách trọng thị. Nhà văn - nhà phê bình khá nổi tiếng ở đất nước 1,3 tỷ dân này là Diêm Liên Khoa đã không ngần ngại khẳng định Nỗi buồn chiến tranh là “một sáng tác hiếm có của châu Á trong văn học thế giới” và đã viết lời nói đầu với tựa đề “Tầm cao của văn học chiến tranh phương Đông” cho Nỗi buồn chiến tranh bản dịch sang tiếng Hoa.

Xin được lược trích vài dòng hào hứng của nhà văn - nhà phê bình Diêm Liên Khoa (Trung Quốc) về Nỗi buồn chiến tranh để tin rằng bụt nhà rồi đến lúc cũng phải thiêng: “Tôi với tư cách là một tiểu thuyết gia đã có đến 26 năm trong quân đội, đọc xong tiểu thuyết này, cảm giác mãnh liệt nhất, đó chính là giả sử ngay từ cuối những năm 80 hoặc muộn hơn một chút vào đầu những năm 90, chúng ta có thể dịch Nỗi buồn chiến tranh sang tiếng Trung giống như Vòng hoa dưới núi của nhà văn Trung Quốc - Lý Tồn Bảo vừa xuất bản hồi đầu những năm 80 đã gần như đồng thời được dịch sang tiếng Việt, thì nhận thức của chúng ta đối với văn học Việt Nam sẽ không đến nỗi phong bế và hạn hẹp như hôm nay”.

Lê Thiếu Nhơn  



 

.
.
;
.
.