Bệnh nhân không nhận máu truyền trong mổ đã xuất viện

Cập nhật lúc 16:31, Thứ Hai, 05/10/2020 (GMT+7)

(ĐN) - Chiều 5-10, Phó giám đốc Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất Nguyễn Thị Kim Loan cho biết, bệnh nhân H. T. T. L.(28 tuổi, ngụ H.Đức Linh, tỉnh Bình Thuận) – người có nguyện vọng không nhận máu truyền trong khi mổ đã bình phục tốt và đã xuất viện.

Theo đó, ngày 22-8, bệnh nhân L. bị tai nạn giao thông, đã đi qua 5 bệnh viện nhưng không thể tiến hành can thiệp điều trị vì bệnh nhân và người nhà từ chối tiếp nhận máu trong mổ.

Ngày 28-8, bệnh nhân vào Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất trong tình trạng đa chấn thương (gãy xương chậu, gãy xương đùi, vỡ bàng quang), mất khoảng hơn ½ lượng máu trong cơ thể. Sau khi biết nguyện vọng của bệnh nhân và gia đình là chấp nhận mọi phương pháp điều trị ngoại trừ tiếp nhận máu của người khác, bệnh viện đã báo cáo lãnh đạo Sở Y tế vì chưa từng điều trị cho bất kỳ bệnh nhân nào có nguyện vọng như vậy. Bởi với một người bị đa chấn thương, mất quá nhiều máu, nếu không truyền máu trong mổ sẽ có nguy cơ tử vong rất cao.

Được sự đồng ý của lãnh đạo Sở Y tế, các bác sĩ của Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất đã hội chẩn và chẩn đoán bệnh nhân bị tràn dịch màng phổi 2 bên, gãy xương đùi phải, gãy xương chậu, theo dõi vỡ bàng quang.

Bệnh nhân được mổ cấp cứu dẫn lưu màng phổi 2 bên, nội soi bàng quang thám sát, cố định các vùng xương gãy. Đồng thời theo dõi tổn thương bàng quang, bất động khung chậu, xuyên đinh kéo tạ xương đùi, chăm sóc chế độ dinh dưỡng đặc biệt, tập phục hồi chức năng tại giường. Các y, bác sĩ đã theo dõi sát tiến triển của bệnh nhân, trao đổi với chuyên gia tuyến trên để có hướng điều trị tốt nhất.

Đến ngày 4-9, các bác sĩ tiếp tục mổ nội soi bàng quang cho bệnh nhân, chăm sóc với chế độ dinh dưỡng đặc biệt. Đến ngày 11-9, kết quả máu của bệnh nhân cho thấy đủ điều kiện để thực hiện cuộc mổ thứ 3 nên bệnh nhân tiếp tục được mổ kết hợp xương đùi bằng phương pháp mổ kín qua máy C-ARM.

Cả 3 cuộc mổ đều được các bác sĩ có trình độ chuyên môn cao của bệnh viện thực hiện, áp dụng các kỹ thuật y học hiện đại nhằm hạn chế mất máu cho bệnh nhân. Sau phẫu thuật, bệnh nhân được nuôi dinh dưỡng, tập phục hồi chức năng tích cực, có thể ngồi dậy được, tập vận động đùi phải, gối, háng và hồi phục sức cơ. Bệnh nhân được xuất viện vào ngày 3-10.

Theo BS Loan, đây là trường hợp rất hy hữu, chưa từng có từ trước đến nay tại bệnh viện. Nếu bệnh nhân chấp nhận truyền máu thì thời gian điều trị sẽ được rút ngắn hơn nhiều và bớt đi 1 lần phẫu thuật (do bác sĩ phải chờ bệnh nhân hồi phục đủ điều kiện mới thực hiện cuộc phẫu thuật tiếp theo).

An Yên

.
.
;
.
.