Những làng nghề truyền thống

Cập nhật lúc 09:08, Thứ Bảy, 02/06/2018 (GMT+7)

Quá trình hình thành của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai bắt đầu từ những thôn, làng, xóm, ấp. Sự tụ cư là yếu tố ban đầu để ổn định cuộc sống bên cạnh việc khai khẩn đất đai vùng đất mới và hình thành các nghề truyền thống gắn với đặc điểm môi trường tại chỗ. Từ các vùng miền, cộng đồng các cư dân ở Biên Hòa xưa đã phát triển thành làng nghề trên vùng đấy này, phục vụ thiết thực cho cuộc sống và góp phần cho sự phát triển hàng hóa cho cả Nam bộ.

Dệt thổ cẩm tại xã Tà Lài (huyện Tân Phú). Ảnh: Hương Giang
Dệt thổ cẩm tại xã Tà Lài (huyện Tân Phú). Ảnh: Hương Giang

Cù lao Phố ngày xưa (nay là xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa) từng là thương cảng nổi tiếng của Nam bộ. Nơi đây được mệnh danh chốn đô hội, trung tâm thu mua hàng hóa từ nhiều nguồn, thương mại phát triển bởi nhiều tàu buôn nước ngoài tìm đến. Trong lịch sử phát triển của xứ Đồng Nai, Cù lao Phố là nơi phát triển nhiều ngành nghề như: dệt chiếu, trồng dâu nuôi tằm, nghề gốm, đúc đồng, làm mộc, trồng mía nấu đường... Sản phẩm đường làm ở Cù lao Phố được xem là đặc sản “xuất khẩu” đến nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á vào thế kỷ 17, 18. 2 nguồn hàng đắc lực cung cấp cho Cù lao Phố là sản phẩm từ làng nghề đá Bửu Long và làng gốm Tân Vạn.

* Làng nghề đá Bửu Long

Làng nghề này trải dài theo đường Huỳnh Văn Nghệ thuộc phường Bửu Long ngày nay
(TP.Biên Hòa). Những người Hoa bang Hẹ từ Trung Quốc đến sinh sống đã hình thành nên làng nghề và phát triển cho đến ngày nay. Nhiều thế hệ gia đình của người Hoa duy trì nghề truyền thống này với những cơ sở được phát triển, tham gia nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật ở Nam bộ. Nghề được truyền theo kiểu cha truyền con nối với những bí quyết trong các công đoạn chế tác sản phẩm. Nghề điêu khắc đá đòi hỏi sự cẩn trọng, tính kiên trì, cần cù, tỉ mỉ và sự sáng tạo với tính mỹ thuật cao.

Sản phẩm điêu khắc từ làng nghề Bửu Long rất phong phú, có mặt hầu hết trong các gia đình từ vật dụng, đồ dùng sinh hoạt (cối đá, ly, chén, bình đựng, bộ cờ), các cấu kết kiến trúc trong nhà ở, chùa chiền, đình miếu (tán cột, kèo ngang) hay các mảng trang trí, đồ thờ cúng (bát nhang, lư hương, đèn, mảng hoa văn, tượng linh thú) trong tín ngưỡng, tôn giáo (tượng thờ, khám thờ, linh vị, bia, nhà mồ). Tùy theo tính chất, công năng của từng loại sản phẩm, nghệ nhân thực hiện đề tài chạm khắc phù hợp, mang tính mỹ thuật.

Trải qua hơn 3 thế kỷ tồn tại với nhiều thăng trầm, làng nghề đá Bửu Long đã sản sinh ra nhiều nghệ nhân tài hoa như: Hà Kiều, Dương Văn Hai, Ngụy Đức Mỹ, Phạm Thành Đẩu… góp phần tôn thêm vẻ đẹp của nhiều công trình kiến trúc trên đất Biên Hòa (miếu Tổ sư/ chùa Bà Thiên hậu, Thất phủ cổ miếu, Văn miếu Trấn Biên) và nhiều cụm tượng đài ở các địa phương trên cả nước bằng chất liệu đá.

* Làng gốm Tân vạn

Nghề làm gốm lu xuất phát từ những thợ gốm người Hoa ở Biên Hòa lập nên. Từ nửa cuối thế kỷ 19, nhiều lò gốm gia dụng ở Tân Vạn đã bắt đầu hình thành. Một trong những lò gốm thành lập khá sớm là Tú Hiệp Thái, sau đổi là Quảng Thuận Long rồi Quảng Phát Long hay Lò Cũ. Những lò gốm cũ của người Hoa chuyên làm đồ gia dụng với những loại sản phẩm như: lu, hũ, chậu, ghè, mái vú… bằng gốm sành. Nguyên liệu chủ yếu là đất sét đỏ pha cát, nung ở nhiệt độ cao tạo cho xương sành dày, chắc và cứng. Quá trình tạo ra sản phẩm gốm lu còn mang tính thủ công cổ truyền, kỹ thuật chế tác chủ yếu bằng phương pháp dải cuộn và qua nhiều công đoạn.

Nghề làm gốm lu ở phường Tân Vạn (TP.Biên Hòa) còn được truyền đến ngày nay.
Nghề làm gốm lu ở phường Tân Vạn (TP.Biên Hòa) còn được truyền đến ngày nay.

Bên cạnh các lò gốm lu, nhiều cơ sở làm gốm mỹ nghệ hiện nay cũng đựơc hình thành và phát triển khá mạnh ở Tân Vạn, Bửu Hòa. Đầu thế kỷ 20, nghề gốm đã phát triển khá mạnh ở Biên Hòa nhưng chủ yếu là sản phẩm gốm gia dụng như: nồi, ơ, trả, trách, lu, hũ, chậu, ghè, ấm, chén, đĩa… để sử dụng chứ chưa mang yếu tố trang trí mỹ thuật. Các lò sản xuất gốm mỹ nghệ thịnh hành kể từ khi Trường Bá nghệ Biên Hòa (nay là Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai) được thành lập cách đây hàng thế kỷ. Quy trình sản xuất, tạo mẫu, pha chế men màu, đặc biệt khâu cải tạo nguyên liệu gốm… được nghiên cứu và thử nghiệm thành công. Năm 1923, các nghệ nhân Biên Hòa đã chế tạo thành công “gốm mỹ nghệ Biên Hòa” với dòng men xanh đồng trổ bông đặc trưng. Từ đó, nhiều sản phẩm gốm đa dạng đựơc sản xuất dùng trong sinh hoạt, trang trí, thờ cúng… Hiện nay, sản phẩm gốm Biên Hòa được xuất khẩu đến nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ.

* Làng đất nung Bửu Long

Tên quen gọi của làng gốm đất nung này là xóm Lò Nồi, thuộc phường Bửu Long. Xóm nghề hình thành do một số hộ gia đình quê huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi) đến Đồng Nai lập nghiệp.

Quá trình làm gốm đất nung tương đối đơn giản, nhẹ nhàng, mang tính thủ công và hoàn toàn dựa vào điều kiện tự nhiên, đặc biệt về nguyên liệu tạo gốm và chất đốt nung gốm. Đất sét vàng lấy từ vùng núi đá Bửu Long, phơi khô, đập nhỏ vụn, sàng lấy bột đất nhuyễn, đất cục thô ngâm nước quậy thành bùn. Lọc sạn khỏi bùn sau đó trộn với bột đất khô, pha thêm cát trắng mịn, nhào lên đất cho đủ độ dẻo để có thể nặn, xoay và chuốt ra sản phẩm. Chỉ cần một bàn xoay gỗ nhỏ đơn giản, người phụ nữ xóm Lò Nồi có thể xoay từ viên đất đã lên dẻo thành những sản phẩm gốm.

Sản phẩm của xóm Lò Nồi chủ yếu là đồ gia dụng như: bếp lò, nồi xông, trách (trả thửng), xoong (tộ) kho cá, chậu trồng lan, cơi tráng bánh, nồi thử vàng, khuôn bánh khọt… đã có lúc nghề này rất hưng thịnh và phát triển rộng gần hết xóm, sản phẩm đất nung Bửu Long có mặt ở khắp địa phương và các vùng lân cận như: Sài Gòn, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh và cả các tỉnh miền Tây Nam bộ…

* Làng nghề dệt thổ cẩm

Đây là làng nghề của người Mạ ở xã Tà Lài (huyện Tân Phú). Công việc dệt thổ cẩm với nhiều công đoạn là công việc hàng ngày của phụ nữ Mạ. Mỗi nhà luôn có khung dệt, đồ cán sợi, xe chỉ. Trước đây, các nguyên liệu để dệt thổ cẩm đều tự tay người Mạ làm từ việc trồng bông làm sợi, xe chỉ cho đến việc lấy vỏ cây làm màu từ những loại cây trong rừng. Ngày nay, nghề dệt thổ cẩm Mạ vẫn còn duy trì trong cộng đồng nhưng các khung quay, đồ cán sợi, xe chỉ không còn nữa. Qua nhiều dự án truyền dạy, nghề dệt thổ cẩm Mạ đang hồi sinh.

Sản phẩm thổ cẩm truyền thống của người Mạ là: chăn, váy, khố, dây quấn đầu… Trên những sản phẩm đó, qua bàn tay khéo léo của người dệt, thổ cẩm của người Mạ có nhiều loại hoa văn trang trí đa dạng, không chỉ là sự kết hợp khéo léo của màu sắc mà còn là biểu tượng cho cảm nghĩ, cách nhìn nhận về thế giới vốn phong phú của cộng đồng người Mạ. Tùy thuộc vào từng loại sản phẩm, công dụng của nó mà người Mạ trang trí các loại hoa văn có ý nghĩa.

Có nhiều biểu trưng hoa văn và ý nghĩa trên thổ cẩm của người Mạ, hầu hết có liên quan đến tư duy của cộng đồng Mạ về cuộc sống, thế giới và những tín niệm được đúc kết, trải nghiệm qua bao đời. Nhiều hoa văn được truyền qua nhiều thế hệ bởi những câu chuyện, trường ca… có liên quan đến nguồn gốc, phong tục của tộc người Mạ, được thể hiện trên thổ cẩm với những nét tinh tế, sắc sảo qua sự khéo léo của mỗi người dệt; đặc biệt là những nghệ nhân. Và hơn nữa, khi dệt những hoa văn họa tiết trên thổ cẩm, mỗi sản phẩm làm ra không chỉ là công sức bỏ ra mà còn tình cảm của người dệt gửi gắm vào đó.

Cùng với quá trình phát triển qua nhiều thời kỳ của các cộng đồng cư dân, nhiều làng nghề thủ công được hình thành, góp phần trong phát triển kinh tế - xã hội từ địa bàn cơ sở. Sự có mặt của nhiều ngành nghề đã làm phong phú cho ngành nghề kinh tế ở Đồng Nai, thể hiện sự thích ứng linh hoạt của người dân. Đó là các làng nghề, nghề truyền thống như: đúc gang ở Thạnh Phú (Vĩnh Cửu), dệt vải ở Tân Mai (Biên Hòa), đúc đồng (Long Thành), làm trống (Trảng Bom), dệt lưới (Định Quán), làm đồ thủ công mỹ nghệ, làm bún, làm thùng thiếc, chằm nón, đan mây tre… ở nhiều địa bàn dân cư. Dẫu có những thăng trầm trong quá trình phát triển nhưng một số làng nghề, nghề truyền thống đã khởi sắc, từng bước được đầu tư nâng cao công nghệ kỹ thuật, khẳng định một sức sống trên đất Biên Hòa - Đồng Nai.

ThS. Phan Đình Dũng

.
.
;
.
.