Kỷ niệm 43 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 - 30-4-2018):

Gặp phi công bắn hạ nhiều máy bay Mỹ

Cập nhật lúc 08:38, Thứ Ba, 24/04/2018 (GMT+7)

Từ một nông dân thứ thiệt, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đại tá Nguyễn Văn Bảy đã được huấn luyện thành một phi công quân sự điêu luyện. Trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ông được tôn vinh là một trong 16 phi công Việt Nam có thành tích bắn nhiều máy bay Mỹ nhất.

Đại tá phi công Nguyễn Văn Bảy (trái) trong những năm bảo vệ bầu trời miền Bắc. Ảnh: Tư liệu
Đại tá phi công Nguyễn Văn Bảy (trái) trong những năm bảo vệ bầu trời miền Bắc. Ảnh: Tư liệu

Trong những ngày tháng 4 lịch sử, câu chuyện bắn rơi máy bay Mỹ của Đại tá phi công Nguyễn Văn Bảy đã làm không khí buổi họp mặt của Ban Liên lạc truyền thống cựu chiến binh không quân tại Nhà máy A42 (Quân chủng Phòng không - không quân, đóng tại TP.Biên Hòa) sôi nổi hẳn lên.

* Từ nông dân thành phi công

Năm nay đã 82 tuổi nhưng Đại tá Nguyễn Văn Bảy vẫn còn giữ được sự nhanh nhẹn vốn có của một phi công quân sự thời chiến. Ông say sưa kể về chuyện bắn rơi máy bay Mỹ với giọng nói đầy hào sảng.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đại tá phi công Nguyễn Văn Bảy đã từng bắn hạ 7 máy bay Mỹ trong 13 lần bắn. Sau năm 1975, ông vẫn giữ nhiều chức vụ trong Quân chủng Không quân (năm 1999, sát nhập cùng Quân chủng Phòng không thành Quân chủng Phòng không - không quân) như: Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 937, Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 372, Phó tham mưu trưởng Quân chủng Không quân...

Đại tá Bảy kể, vào năm 1954 ông rời quê ở huyện Lai Vung (tỉnh Đồng Tháp) để lên đường tập kết ra Bắc. Đến năm 1960, ông được tổ chức chọn đi đào tạo phi công quân sự. Hồi đó ông mới chỉ học hết lớp 3, cả nhà mấy đời đều làm nông dân, vì vậy khi biết tin này ông còn tưởng cán bộ cấp trên ghi nhầm tên.

5 năm học tập, trải qua bao giai đoạn huấn luyện khó khăn tại tỉnh Liêu Ninh (Trung Quốc), Đại tá Nguyễn Văn Bảy về nước và được biên chế vào Trung đoàn Không quân 923. Ngày 7-10-1965, trong một lần chạm trán máy bay Mỹ, chiếc MiG17 do Đại tá Bảy điều khiển bị trúng đạn, thủng kiếng buồng lái và nhiều vết khác trên thân máy báy. Ông đã nhanh trí xử lý linh hoạt để tránh trúng thêm đạn và tìm mọi cách đưa máy bay về sân bay an toàn. Việc này sau đó được các chuyên gia Liên Xô đánh giá rất cao vì dù máy bay bị dính nhiều vết đạn nhưng vẫn về đến mặt đất an toàn.

Trong tháng 6-1966, Đại tá Bảy liên tục bắn hạ 3 máy bay Mỹ. Đến năm 1967, số máy bay Mỹ do Đại tá Bảy bắn hạ đã lên đến con số 7. Nhờ những thành tích đó, cuối năm 1966 ông cùng 2 phi công đồng đội được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngay tại Phủ Chủ tịch. Sang năm 1967, Đại tá Bảy được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đại tá Bảy nhớ lại: “Máy bay địch thời kỳ đó bay nhanh hơn MiG17 của chúng ta, hỏa lực mạnh hơn chúng ta, nhưng vẫn thất bại khi đối đầu với thế hệ phi công đầu tiên lái MiG17 của ta. Đó là một trong những động lực lớn giúp các chiến sĩ ở mặt trận khác tự tin hơn khi đối đầu với vũ khí tối tân của Mỹ”.

Đến năm 1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Đại tá Bảy cũng vinh dự được là Phi đội trưởng 12 chiếc MiG17 nghiêng cánh chào vĩnh biệt trong tang lễ Bác ngày 9-9 trên bầu trời Hà Nội. “Đó là cảm giác rất khó tả nổi, có thể nói là một trong những thời điểm xúc động nhất mà tôi từng trải qua, còn hơn cả những lần bắn hạ được máy bay Mỹ” - Đại tá Bảy bùi ngùi chia sẻ.

* Được kẻ thù ngưỡng mộ

Đại tá Nguyễn Văn Bảy tâm sự ông may mắn hơn nhiều đồng đội vì đi qua cuộc chiến khốc liệt ấy mà vẫn còn nguyên vẹn thân thể để về với gia đình. Nhiều lần đánh đêm, máy bay địch quần đảo, phòng không ở dưới bắn lên, nguy hiểm bốn bề, nhưng ông vẫn vượt qua được.

Đại tá phi công Nguyễn Văn Bảy (thứ 2 từ trái sang) trao đổi với đồng đội tại buổi họp mặt Ban Liên lạc truyền thống không quân tại TP.Biên Hòa.
Đại tá phi công Nguyễn Văn Bảy (thứ 2 từ trái sang) trao đổi với đồng đội tại buổi họp mặt Ban Liên lạc truyền thống không quân tại TP.Biên Hòa.

Một điều may mắn nữa là ông đã lấy được vợ cũng là người cùng quê khi còn chiến đấu ở miền Bắc. Vợ ông khi đó là học sinh miền Nam ra Bắc học. Ngày cưới vào giữa năm 1966, ông trực chiến đấu ở Sân bay Cát Bi (TP.Hải Phòng) nên vợ ông phải đi từ Hà Nội về Hải Phòng làm lễ. Lúc đang tổ chức lễ cưới thì có tiếng báo động, thế là ông Bảy lên máy bay chiến đấu, bỏ cô dâu một mình ở lại làm lễ cưới. “Vậy mà bà ấy không giận, lại còn sống khỏe mạnh cùng tôi đến giờ này” - Đại tá Bảy mỉm cười khi nhắc lại.

Những thành tích mà Đại tá Bảy đã làm được cũng khiến kẻ thù ngưỡng mộ. Sau này từ chính sự ngưỡng mộ đó, khi hòa bình lập lại, 2 con người từng ở 2 chiến tuyến đã trở thành bạn bè của nhau. Tháng 7-2015, cựu phi công Mỹ Joseph Charlie Plumb đã tìm đến thăm Đại tá Nguyễn Văn Bảy ở tỉnh Đồng Tháp. Họ từng chạm trán nhau trên bầu trời vào ngày 24-4-1967 (khi đó máy bay của Joseph Charlie Plumb bị bắn hư nhưng không rơi). Đại tá Bảy đã tự tay nấu bữa tiệc nhỏ tại nhà thiết đãi Joseph Charlie Plumb với những thứ có sẵn trong vườn.

“Đối với chúng tôi, quá khứ là quãng thời gian chiến tranh đầy đau thương, do đó, mong mỏi lớn nhất hiện nay là hòa bình, ổn định và phát triển” - Đại tá Bảy bộc bạch.

Tháng 7-2017, Đại tá Nguyễn Văn Bảy lên đường sang Mỹ cùng 11 đồng đội phi công từng chiến đấu trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Tại đây, ông đã được gặp Marshall L.Michel III - một phi công từng tham chiến tại Việt Nam. Dù chưa từng chạm trán nhau bao giờ nhưng tiếng tăm về những người đàn ông nhỏ con lái dòng máy bay cũ kỹ hạ được F4, F105, là những máy bay hiện đại của Mỹ ngày ấy đã khiến Marshall L.Michel III cảm phục. Sau này, Marshall L.Michel III qua Việt Nam cũng ghé nhà thăm Đại tá Bảy cùng hàn huyên như những người bạn.

Đại tá Bảy chia sẻ: “Sắp tới ngày kỷ niệm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tôi mừng lắm. Điều tuyệt vời nhất chính là tôi còn được sống đến tận ngày hôm nay để nhìn thấy thành quả mà thế hệ chúng tôi chiến đấu gây dựng nên tiếp tục được thế hệ sau kế thừa, xây dựng đất nước đang ngày càng phát triển, đời sống của người dân không ngừng được nâng cao. Việt Nam ngày càng hòa nhập và vươn xa ra thế giới”.

Đăng Tùng

.
.
;
.
.