"Hải Âu" vượt đại dương

Cập nhật lúc 22:51, Chủ Nhật, 05/03/2017 (GMT+7)

Song hành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, cùng với đội ngũ tàu chiến đấu, vận tải hùng hậu, Quân chủng Hải quân còn có một con tàu vừa làm nhiệm vụ tuần tiễu, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, vừa lãng mạn như chim hải âu.

Đó là tàu buồm huấn luyện Lê Quý Đôn, con tàu đầu tiên của Hải quân Việt Nam vượt đại dương đến nhiều vùng biển trên thế giới.

Tàu buồm Lê Quý Đôn và niềm tự hào của những người lính trẻ.
Tàu buồm Lê Quý Đôn và niềm tự hào của những người lính trẻ.

Sau chuyến hải trình vượt đại dương trở về, Thuyền trưởng Lã Văn Tám bảo: “Đời thủy thủ, niềm vui nhất là an toàn sau những chuyến hải trình. Ngoài biển gian khổ bao nhiêu, về bờ thoải mái bấy nhiêu. Làm lính biển, được vùng vẫy trên biển là niềm kiêu hãnh, chúng tôi luôn tự hào về nhiệm vụ của mình”.

* Niềm vui sau chuyến hải trình

Trong nhiều vụ tuần tiễu vượt đại dương, Thuyền trưởng Tám nhớ nhất là chuyến hải trình từ Ba Lan về Việt Nam.

Lần ấy, anh cùng các thủy thủ tàu Lê Quý Đôn đã vượt chặng đường 18 ngàn hải lý với 122 ngày đêm hải trình liên tục. Bắt đầu từ biển Baltic, con tàu Hải Âu đi trong bão tuyết giữa mùa đông lạnh giá. Vượt qua kênh Anh, băng qua Đại Tây Dương, vào biển Caribe, tới kênh đào Panama, xuyên biển Thái Bình Dương vào Biển Đông và cuối cùng về Việt Nam.

Trong suốt 122 ngày đêm hành trình 3/4 vòng trái đất ấy, các cán bộ, chiến sĩ thủy thủ tàu Lê Quý Đôn “chạm trán” với 4 cơn bão trên vùng biển Đại Tây Dương và Thái Bình Dương với sức gió cấp 11. Với tinh thần quả cảm và linh hoạt, Thuyền trưởng Tám đã trực tiếp chỉ huy thủy thủ đưa tàu Hải Âu vượt qua bão tố cập bến an toàn.

“Khi tàu gặp bão tố trên biển Đại Tây Dương, chúng tôi nín thở, tất cả đều lo lắng cho an nguy của con tàu. Lúc đó, hình ảnh Việt Nam, gia đình ẩn hiện trong tâm trí. Suốt quá trình chạy chống sóng là quá trình “cân não” với bão tố. Khi tàu đi ở vùng biển Caribe, thời tiết rét cắt da cắt thịt. Mặc dù đã có đầy đủ trang thiết bị sưởi ấm, nhưng khi lên mặt boong mọi người phải mím chặt môi, gồng mình trước cái lạnh thấu xương. Hành trình trên vùng biển nước bạn, mọi quy định Luật Hàng hải quốc tế được tuân thủ nghiêm ngặt. Giữa biển khơi, hiểm nguy xảy ra bất ngờ khó lường trước được” - Thuyền trưởng Tám chia sẻ.

Các thủy thủ trên tàu buồm Lê Quý Đôn chuẩn bị dây buồm cho tàu rời bến.
Các thủy thủ trên tàu buồm Lê Quý Đôn chuẩn bị dây buồm cho tàu rời bến.

Sau chuyến hải trình trở về, những người lính trên con tàu Hải Âu vẫn chưa hết “ấn tượng” về chuyến đi lịch sử vượt qua hơn nửa vòng trái đất. Khi tàu hải trình trên biển, họ căng thẳng, có lúc phải nín thở khi tàu đi vào vùng băng lạnh, hoặc dông tố biển đêm.

Khi tàu cập cảng, mọi người ôm chầm lấy nhau, rơi nước mắt thở phào nhẹ nhõm. Vợ con một số thủy thủ ra tận cầu cảng đón chồng, đón cha. Trong niềm vui đoàn viên, những giọt nước mắt của thủy thủ và người thân hòa xúc động trên cầu cảng Nha Trang.

Thủy thủ Phan Anh Tuấn chia sẻ giọng tự hào: “122 ngày hải trình là 122 ngày lo lắng. Nhiều đêm tôi mất ngủ vì trực ca, trực hàng hải. Lúc tàu gặp bão tố trên Đại Tây Dương, tất cả thủy thủ đều căng thẳng nhưng vững niềm tin tàu sẽ cập bến an toàn. Nói thật với anh, đời lính tàu niềm vui, hạnh phúc nhất là nhìn thấy đất liền, trở về nguyên vẹn. Lúc ở biển, mình nhỏ bé như hạt cát, nhưng tinh thần lại kiên cường lớn mạnh như trước khi vào trận đánh vậy. Càng khó khăn, càng vững niềm tin để chiến thắng”.

* Tàu “8X”

Tàu buồm huấn luyện Lê Quý Đôn được cán bộ, chiến sĩ và học viên Học viện Hải quân Nha Trang (Khánh Hòa) gọi là tàu “8X” bởi 80% cán bộ, thủy thủ trên tàu ở lứa tuổi 8X, 5 thủy thủ thế hệ 9X và hầu hết đều đọc thông viết thạo tiếng Anh, đặc biệt là tiếng Anh chuyên biệt về tàu biển và hàng hải quốc tế.

Thượng úy Nguyễn Thanh Lý, Trưởng ngành thông tin, ra-đa, cho biết tiếng Việt chỉ sử dụng khi tàu ở Việt Nam, cập cảng, còn khi hải trình hầu hết đều nói tiếng Anh vừa là quy định, vừa để rèn luyện bản lĩnh và khẩu ngữ.

Những ngày cuối tháng 2-2017, tàu buồm đang khẩn trương xây dựng mô hình học cụ, biên soạn bài giảng, luyện tập đội ngũ sẵn sàng cho ngày ra quân huấn luyện. Những sĩ quan “già”, những thủy thủ 8X đều có chung một tâm trạng phấn khởi cho lần đầu tiên ra quân huấn luyện.

Phía mũi tàu, một toán sĩ quan thực tập chuẩn bị dây buồm trước giờ huấn luyện, một tốp học viên trẻ bên khoang giữa mở nắp hầm để lau chùi vũ khí. Sau tiếng nói cười là những giọt mồ hôi trên khuôn mặt dạn dày nắng gió của Trung úy, quân nhân chuyên nghiệp Nguyễn Văn Việt đang miệt mài với công việc thu phát tín hiệu tại cabin.

Trung úy Việt bảo: “Làm việc trong môi trường hiện đại, tôi rất tự hào. Dù tất cả trang bị đều tự động hóa, nhưng không thay thế được ý chí con người. Lớp trẻ chúng tôi tiếp thu kỹ thuật nhanh nên làm chủ vũ khí hiện đại thời gian ngắn hơn”

* Tự hào lính tàu buồm

Tàu buồm Lê Quý Đôn (phiên hiệu quân sự 286), là chiếc tàu buồm đầu tiên của Việt Nam với tính năng, tác dụng kỹ - chiến thuật hiện đại, vừa phục vụ tuần dương tuần tiễu trong lĩnh vực quân sự, vừa có nhiệm vụ du lịch, hải trình vượt đại dương dài ngày trên biển và giao lưu quốc tế.

Do kết cấu thân tàu màu trắng và sức “quyến rũ” của những cánh buồm nên bộ đội hải quân gọi thân thiện là “Hải Âu”. Những cánh buồm trắng khi đi biển căng phồng như cánh chim hải âu lướt trên mặt biển.

Tàu Hải Âu do Ba Lan đóng năm 2014, hạ thủy ngày 1-6-2015. Tàu có 3 cột buồm với tổng diện tích 1,4 ngàn m2, lượng giãn nước 857 tấn, dài 67m, rộng 10m, chiều cao cột buồm 40m, mớn nước 3,6-5,75m. Tàu được trang bị hệ thống điện tử, hệ thống hàng hải hiện đại. Thủy thủ biên chế trên tàu 30 người và có thể mang thêm 80 học viên thực hiện huấn luyện đi biển dài ngày.

Từ ngày thành lập đến nay, tàu buồm Lê Quý Đôn đã vượt qua hàng trăm ngàn hải lý an toàn, phục vụ cho công tác tuần dương, huấn luyện, giao lưu, giao hữu quốc tế; cán bộ, chiến sĩ trên tàu luôn tự hào về con tàu của mình.

Trung úy, Phó thuyền trưởng tàu buồm Lê Quý Đôn Nguyễn Trọng Hiếu cho biết: “Khác với tàu chiến đấu, tàu vận tải, được công tác ở tàu buồm là niềm vinh dự lớn đối với tôi. Ngoài nhiệm vụ quân sự, mỗi thủy thủ không ngừng học tập Luật Hàng hải quốc tế, tiếng Anh, trau dồi bản lĩnh chính trị và luôn sẵn sàng xuất phát đi biển trong mọi điều kiện thời tiết, tình huống. Trong bất kỳ nhiệm vụ nào cũng tự tin, hoàn thành nhiệm vụ”.

Thượng sĩ Trần Văn Hiệu, học viên thực tập trên tàu buồm, chia sẻ: “Tôi được biên chế về tàu buồm thực tập và trực tiếp chuyến hải trình từ Ba Lan về Việt Nam. Khi bước chân xuống tàu, tôi choáng ngợp với máy móc và thiết bị hiện đại, tất cả đều hoàn thiện và tự động. Bộ đội Hải quân Việt Nam tự hào về tàu buồm Hải Âu, mỗi khi tàu xuất phát ra khơi là niềm vui dâng tràn. Tất cả thủy thủ đều mong muốn được huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu để cống hiến sức mình cho con tàu thân yêu của Tổ quốc”.

Mai Thắng

.
.
;
.
.