Vụ sà lan đâm sập cầu Ghềnh: Truy tố 2 bị can

Cập nhật lúc 22:59, Thứ Sáu, 03/03/2017 (GMT+7)

Gần 1 năm sau khi xảy ra sự cố sà lan đâm vào trụ chống làm sập cầu Ghềnh ngày 20-3-2016, Viện Kiểm sát nhân dân TP.Biên Hòa đã ra cáo trạng truy tố 2 bị can Phan Thế Thượng (62 tuổi, quê tỉnh Sóc Trăng, chủ tàu kéo mang số hiệu SG-3745 dùng để đẩy sà lan SG-5984) và Trần Văn Giang (36 tuổi, quê tỉnh Bạc Liêu, lái tàu chính đâm sập cầu Ghềnh).

 Lực lượng chức năng khám nghiệm hiện trường vụ sập cầu Ghềnh.
Lực lượng chức năng khám nghiệm hiện trường vụ sập cầu Ghềnh.

Các bị can bị truy tố về các tội: điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường thủy; vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy và đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thủy không đảm bảo an toàn.

Theo kết quả điều tra, vào ngày 20-3-2016, 2 bị can Thượng, Giang và Nguyễn Văn Lẹ (28 tuổi, quê tỉnh Bạc Liêu) điều khiển tàu kéo SG-3745 đẩy sà lan SG-5984 chở khoảng 800 tấn cát từ miền Tây đến Đồng Nai tiêu thụ. Khi đến TP.Hồ Chí Minh, ông Thượng có việc riêng phải lên bờ giải quyết nên giao tàu lại cho Giang và Lẹ điều khiển chở cát đến TP.Biên Hòa.

Đến khoảng 11 giờ 30 cùng ngày, tàu do Giang điều khiển đi đến đoạn sông Đồng Nai dưới chân cầu Ghềnh. Khi gặp dòng nước xoáy, do không có bằng lái, thiếu kinh nghiệm điều khiển sà lan nên Giang đã để cho sà lan đâm vào trụ cầu số 2 gây sập 2 nhịp cầu Ghềnh. Vụ tai nạn không gây thiệt hại về người nhưng sà lan cùng tàu đẩy đã bị lật và chìm xuống sông. Cầu Ghềnh bị sập 2 nhịp làm tê liệt hoàn toàn tuyến đường sắt Bắc - Nam trong hơn 3 tháng.

Hai bị can Phan Thế Thượng (trái) và Trần Văn Giang.
Hai bị can Phan Thế Thượng (trái) và Trần Văn Giang.

Sau khi bơi được vào bờ, thấy hậu quả do mình gây ra quá lớn, Giang và Lẹ tìm đến nhà một người quen gần đó mượn 1 triệu đồng rồi đón xe về quê lẩn trốn. Trên đường về quê, Giang đã gọi điện báo cho ông Thượng việc tàu đã bị chìm sau khi đâm sập cầu Ghềnh tại TP.Biên Hòa. Tuy nhiên khi về đến nhà, qua thông tin báo chí thấy sự việc mình gây ra rất nghiêm trọng, cả hai đã đến cơ quan công an đầu thú.

Sau khi sự cố sập cầu Ghềnh xảy ra, lực lượng chức năng của tỉnh đã vào cuộc điều tra. Hơn 1 ngày truy xét, cơ quan công an xác định danh tính những người liên quan đến sự cố sập cầu và đã ra quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam để điều tra.

Theo điều tra của cơ quan công an, trong vụ án này bị can Thượng (chủ tàu, cũng là tài công) biết rõ tàu kéo SG-3745 không đảm bảo an toàn kỹ thuật, không bố trí thuyền viên theo quy định nhưng vẫn giao tàu cho bị can Giang, người không có bằng lái tàu thủy điều khiển phương tiện, là đã vi phạm Điều 215 Bộ luật Hình sự. Đối với bị can Giang dù không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (không có bằng thuyền trưởng) nhưng vẫn điều khiển tàu và đã gây ra vụ tai nạn đặc biệt nghiêm trọng này.

Liên quan đến vụ án, Nguyễn Văn Lẹ có mặt trên chiếc tàu đẩy sà lan cùng với bị can Giang khi tai nạn xảy ra, nhưng quá trình điều tra cơ quan công an xác định Lẹ chỉ là người phụ việc trên tàu nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với những thiệt hại do sự cố sập cầu Ghềnh gây ra, cơ quan điều tra xác định sự cố gây thiệt hại tổng trị giá tài sản là 21,7 tỷ đồng.

Điều 215 Bộ luật Hình sự quy định, người nào điều động hoặc giao cho người không có giấy phép hoặc bằng lái, hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường thủy gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này, hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 10-50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1-5 năm; phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 3-10 năm; phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 7-15 năm. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1-5 năm.

Trần Danh

.
.
;
.
.