Đặt môi trường lên hàng đầu

Cập nhật lúc 21:18, Chủ Nhật, 24/03/2019 (GMT+7)

Mô hình sản xuất - kinh doanh kiểu tận dụng “lấy công làm lời”, sử dụng mặt bằng cơi nới từ nhà ở, không có các phương án xử lý về môi trường, phòng cháy chữa cháy, thoát hiểm... vốn tiềm ẩn nhiều nguy cơ cho bản thân cơ sở đó và cả cộng đồng xung quanh, nhất là khi quy mô làm ăn có sự phát triển lớn thêm theo năm tháng, song mặt bằng vẫn nhỏ bé như cũ. Từ thực tế đó, UBND tỉnh đã nhiều lần rà soát và ra quyết định di dời ra khỏi khu dân cư đối với gần 800 cơ sở, doanh nghiệp trong vòng 6 năm nay.

Sẽ có rất nhiều khó khăn thử thách khi một cơ sở hoặc doanh nghiệp vì lý do nào đó buộc phải dời đến nơi sản xuất mới, gầy dựng lại từ đầu: nhà xưởng, thiết bị, nhân công… đặc biệt với những doanh nghiệp hay cơ sở đó đi lên từ quy mô hộ gia đình và vẫn chưa thoát được cách đầu tư, quản lý, vận hành nhỏ lẻ. Tính sơ, một cơ sở dù quy mô rất nhỏ cũng sẽ cần ít nhất 4-5 ngàn m2 đất để tổ chức sản xuất, với giá thuê đất khoảng từ 35-95USD/m2/50 năm tại các cụm công nghiệp thì cần ít nhất 150-200 ngàn USD chỉ riêng tiền thuê đất, tương đương gần 4-5 tỷ đồng, chưa kể các chi phí khác về xây dựng nhà xưởng cũng mất gần 4-5 tỷ đồng cho những xưởng nhỏ. Ngoài ra còn chi phí cho thiết bị máy móc và cả phí vận chuyển, cầu đường, kho bãi… khi dời xưởng sản xuất ra khỏi khu đất nhà mình. Và không phải ai cũng có thể dời toàn bộ công việc làm ăn đến một cụm công nghiệp cách xa nhà hàng chục cây số.

Hiểu những khó khăn này, UBND tỉnh cũng mấy lần gia hạn, nhẹ tay trong xử lý để các cơ sở và doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị. Song, những quy định về bảo vệ môi trường ngày một siết chặt hơn và khó địa phương nào có thể buông lỏng, gia hạn thêm được nữa. Bởi ngoài việc phải đặt tiêu chí bảo vệ môi trường lên hàng đầu, sự thiếu kiên quyết trong việc buộc các cơ sở, doanh nghiệp trong danh sách phải di dời còn làm ảnh hưởng đến sự công bằng, minh bạch trong môi trường đầu tư chung khi cho tồn tại những cơ sở gây nguy hại cho môi trường ngay trong khu dân cư suốt nhiều năm, song lại siết chặt quy định đối với các cơ sở đầu tư mới.

Quan điểm của lãnh đạo tỉnh là sẽ không tiếp tục nhân nhượng để các cơ sở nói trên “chây ì” thêm thời gian tồn tại giữa lòng các khu dân cư nữa. Do đó, tỉnh sẽ rà soát kỹ và kịp thời có các chính sách tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ cơ sở, doanh nghiệp trong khả năng quy định pháp luật cho phép.

Vi Lâm

.
.
;
.
.