Kiểm soát quyền lực trong cơ chế một đảng cầm quyền

Cập nhật lúc 08:24, Thứ Hai, 28/05/2018 (GMT+7)

Một trong 8 giải pháp của Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII “về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” là kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền là kiểm soát quyền lực trong cơ chế một đảng cầm quyền.

Cán bộ chủ chốt của Đồng Nai về tham dự hội nghị triển khai Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII).
Cán bộ chủ chốt của Đồng Nai về tham dự hội nghị triển khai Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII).

Đây là vấn đề cấp thiết trong công tác cán bộ của Đảng hiện nay.

* Đảng chính trị lãnh đạo

Các nhà chính trị học đã chỉ ra rằng quyền lực có xu hướng tha hóa, quyền lực tuyệt đối tha hóa tuyệt đối, quyền lực càng lớn sự tha hóa càng lớn. Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII cũng là sự tiếp tục cụ thể hóa tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng về kiểm soát quyền lực, đó là “hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Vậy nên, kiểm soát chặt chẽ quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền nhằm kiến tạo một đội ngũ cán bộ trong bối cảnh hiện nay là công việc quan trọng và cấp bách.

Ở Việt Nam, với cơ chế Đảng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối mọi mặt đời sống xã hội đã được hiến định trong Hiến pháp để thực hiện “đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013).

Trong hệ thống chính trị hiện nay, không những là Đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam còn thực hiện vai trò là một đảng chính trị lãnh đạo. Đội ngũ cán bộ do Đảng lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng. Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị từ lớn đến nhỏ đều thuộc phạm vi và thẩm quyền của các tổ chức Đảng. Vì vậy, thực hiện tốt việc kiểm soát chặt chẽ quyền lực nhằm hạn chế tối đa những bất cập, tiêu cực trong công tác cán bộ thời gian qua, nhất là “bịt” các lỗ hổng về công tác cán bộ để những kẻ cơ hội không có “cửa” leo cao, trèo sâu vào các cơ quan công quyền.

* Làm sao để kiểm soát?

Để cụ thể hóa các quy định về kiểm soát quyền lực, tất nhiên cần thời gian và cần có các quy định cụ thể khác nhau, tuy nhiên có thể thấy, kiểm soát quyền lực đối với các tổ chức Đảng hiện nay cần tuân thủ và thực thi nghiêm minh Hiến pháp và pháp luật.

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Như vậy, trước hết các tổ chức Đảng không được làm thay công việc của Nhà nước. Đảng là đảng cầm quyền và được hiến định trong Hiến pháp, nhưng Đảng không phải Nhà nước và không có quyền lực của cơ quan Nhà nước. Vì vậy, uy tín của Đảng là ở việc Đảng ban hành và thực thi các chủ trương, đường lối đáp ứng nhu cầu và lợi ích chính đáng của nhân dân và xây dựng được đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức, toàn tâm, tận lực hoàn thành nhiệm vụ, nghĩa vụ được giao. Thứ hai là các “tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Như vậy, các tổ chức của Đảng và đảng viên của Đảng dù lớn hay bé đều bình đẳng trước pháp luật như tất cả các đối tượng điều chỉnh của pháp luật Việt Nam.

Hai là, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong giám sát hoạt động của Đảng. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đảng chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013). Như vậy, nhân dân có thẩm quyền giám sát hoạt động của Đảng từ sự gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình, cho đến các hành vi vi phạm pháp luật của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực tế đã chứng minh rằng đa phần các vụ việc tham nhũng, lãng phí liên quan đến các cán bộ có chức, có quyền bị phát hiện đều do nhân dân và báo chí phát hiện và tố giác.

Ngoài ra, năm 2013, Bộ Chính trị ban hành Quy định 217-QĐ/TW về quy chế giám sát, phản biện xã hội của MTTQ, của các tổ chức chính trị - xã hội... Đây là một quy định nếu thực hiện có hiệu quả sẽ đem lại rất nhiều lợi ích thiết thực.

Ba là, dân chủ trong lựa chọn và bổ nhiệm cán bộ. Đối với các tổ chức Đảng cần công khai, minh bạch các quy trình công tác cán bộ, công khai, dân chủ và thi tuyển có cạnh tranh trong công tác cán bộ. Về lâu dài cần hướng tới cả việc cho phép những người không công tác ở đơn vị ấy nếu có hiểu biết và có đủ điều kiện vẫn được thi tuyển vào các vị trí lãnh đạo. Nghị quyết lần này có quy định là trọng dụng cán bộ không kể người Việt Nam trong nước hay ngoài nước, không phân biệt người trong Đảng hay ngoài Đảng.

Đối với việc bầu cử các đại biểu dân cử, Đảng có trách nhiệm lựa chọn đảng viên giới thiệu ra ứng cử, cho nhân dân bầu. Như vậy, một đại biểu được bầu vừa đáp ứng được sự tín nhiệm của nhân dân, vừa của Đảng. Khi ứng viên đó trúng cử, cả Đảng và dân đều thực hiện sự giám sát của mình với các vị đại diện đó. Sau khi đã bầu, người dân còn dùng quyền giám sát và quyền bãi miễn để có thể không bầu lại trong nhiệm kỳ tới hoặc thu hồi lại quyền lực khi người đại diện không còn xứng đáng. Việc bầu cử phải thực sự dân chủ, tránh hình thức. Đảng nên coi trọng và giới thiệu những người mà người dân thấy xứng đáng nhất, đáng tin cậy nhất.

Bốn là, việc kiểm soát quyền lực phải được thực thi ở cả cơ chế “tự kiểm soát” của Đảng thông qua sinh hoạt Đảng, thông qua tự phê bình và phê bình, thông qua công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng thật sự công khai, minh bạch, nghiêm minh và mang tính răn đe cao. Cần tránh và bỏ hẳn hình thức “giơ cao, đánh khẽ” bởi trong thực tế nhân dân đã quá chán ngán với những cụm từ kiểu như “rút kinh nghiệm, rút kinh nghiệm sâu sắc”...

Vũ Trung Kiên

.
.
;
.
.